ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta ngày càng phát triển, nhân dân ta ngày càng được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhất là ở các thành phố lớn, các trường học, diều kiện học tập cũng được cải thiện rất nhiều, mặc dù vậy thì tỷ lệ cận thị có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở các thành phố lớn. Cận thị là một loại tật khúc xạ của mắt, trong đó tiêu điểm sau ở trước võng mạc, do đó mắt cận thị không nhìn rõ các vật ở xa, thị lực nhìn xa bao giờ cũng dưới 10/10 [2], Cận thị thường xuất hiện và tiến triển ở lứa tuổi trẻ em đến trường nên người ta gọi là “ Cận thị học đường ” Cận thị gây ảnh hường đến sự phát triển về thể chất, thẩm mỹ, sức khỏe, làm ảnh hưởng tới sự năng động, nhanh nhạy, giao tiếp xã hội. Cận thị còn làm ảnh hưởng đến học tập, tương lai, sự nghiệp cùa học sinh, một trong những biến chứng nguy hiểm của cận thị là thoái hóa võng mạc, bong võng mạc và có thế gây mù. Hiện nay trên thế giới có khoảng 1/3 dân số bị mắc các loại tật khúc xạ, trong đó cận thị chiếm đa số.
Vì vậy Tổ chức Y tế thế giới đã đưa tật khúc xạ vào danh sách những bệnh trọng tâm của chương trình thị giác năm 2020[2J. Công trinh nghiên cứu về cận thị đầu tiên trên thế giới là của Hermann Coha ( 1876 ) ở Đức và Erismen (1987) ở Nga làm cho các nhà nhãn khoa, các nhà vệ sinh dịch tễ ngành giáo dục bắt đầu thấy tầm quan trọng cùa cận thị học đường. Tỳ lệ cận thị ở các nước Châu Á chiếm tỷ lệ cao trên thế giới Ước tính trên toàn thế giới có khoáng 800 triệu đển 2,3 tỷ người bị mắc các tật khúc xạ [32], Tỷ lệ mắc các tật khúc xạ phụ thuộc vào từng lửa tuổi, từng khu vực, giới tính, môi trường. Ở một sổ nước như Nhật Bản, Singapore và Đài Loan thi có trên 44% dân số bị cận thị chủ yếu là người lớn [41],[42].
Cận thị học đường chiếm tỷ lệ cao ớ lứa tuồi học sinh và đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia trên thế giới. 4 Tại Việt Nam, theo điều tra của giáo sư Hoàng Thị Lũy và cộng sự, tại TPHCM năm 1998, tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh ( Chủ yếu là cận thị) là 30,5 % trong đó ở học sinh THCS là 34,5 % PTTH là 26,87% và tỷ lệ này có xu hướng gia tàng rất nhanh. Năm 2003, một cuộc điều tra được tiến hành tại 5 trường với trên 5,000 học sinh tại TPHCM cho thấy tỷ lệ cận thị ở các trường không chuyên là 47,93% còn các trường chuyên là 79,95%[13]. Khoa khúc xạ bệnh viện mắt TPHCM cũng đã tiển hành khảo sát trên gần 5,200 học sinh lớp 1, lóp 6 và lóp 10.
kểt quả là 25 % học sinh mắc các tật cận thị, trong đó chỉ có 8% đeo kính và 30% trong số ấy được đeo kính đúng với tình trạng cùa mắt[22]. Tại Hà nội, theo khảo sát của Sở Y tế Hà nội, tại 6 trường THCS trên địa bàn Thủ đô thì tỷ lệ học sinh bị các tật khúc xạ về mắt lên đến 73,2%, riêng cận thị học đường là 47,5%. Có nhiều nguyên nhân gây nên cận thị học đường như bàn ghế không đúng quy định, điều kiện chiếu sáng không đảm báo, tư thế ngồi học của học sinh chưa đúng, sử dụng mắt liên tục trong thời gian dài. Theo khảo sát của Sở Giáo dục và Đào tạo tại 41 trường THPT thì có tới 37/41 trường có độ rọi sáng của các lớp học không đủ tiêu chuẩn cửa Bộ Y tế đưa ra [23].
Quận Tây Hồ là một quận trung tâm cùa thành phố Hà nội, được thành lập năm 1996. nằm ở phía bắc của thủ đô Hà nội với diện tích là 2394 ha, có 8 phường với dân sổ là 107.201 người và mật độ dân số là 4550 người/km2. Trung tâm y tế quận Tây Hồ với số cán bộ là 138 người gồm 46 cán bộ y tế phường và 12 cơ sở khám chữa bệnh. Theo báo cáo cùa TTYT quận Tây hồ cho thấy tỷ lệ cận thị của học sinh THCS ngày càng tăng cao Năm 2004 là 14.
Ảnh hưởng của cận thị đển sức khỏe, học tập và tương lai của trẻ cũng là mối quan tâm rất lớn của các bậc phụ huynh và toàn xã hội. Trường Chu Văn An là một trường đạt chuẩn quốc gia với đội ngũ giáo viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, điều kiện trường lớp 5 khang trang, học sinh có ý thức học hành tốt, mặc dù công tác CSSK học sinh, hệ thống y tế học đường, điều kiện vệ sinh trường học, điều kiện học tập đã được quan tâm nhưng tỷ lệ cận thị vẫn có xu hướng gia tăng, Vậy câu hởi đặt ra là: Thực trạng tỷ lệ cận thị, mức độ cận thị của học sinh tại trường THCS như thế nào? Những yếu tố gì có liên quan tới cận thị học đường của học sinh? Các báo cáo của TTYT quận cũng chỉ mới xác định được tỳ lệ cận thị trung bình của học sinh trên toàn quận , chưa xác định được mức độ cận thị của HS và những yếu tổ liên quan tới Cận thị học đường vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh trường trung học CO’ sở Chu Văn An, quận Tây Hồ, Hà nội năm 2007”. MỤC TIÊU NGHIÊN củu 2. Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng và một số yếu tổ có liên quan đen cận thị cùa học sinh trung học cơ sở Chu Văn An quận Tây Hồ.2 Mục tiêu cụ thể : 2.
Xác định tỷ lệ cận thị của học sinh trường trung học cơ sở Chu Vãn An quận Tây Hồ , Hà Nội năm 2007 2. Mô tá một sổ yếu tố hên quan đến cận thị học đường cùa học sinh trung học cơ sở Chu Vàn An quận Tây Hồ. từ đó đề xuất một số khuyến nghị góp phần phòng tránh cận thị học đường cho học sinh. Chu’OTig 1 TÒNG QUAN 1.
Một số khái niệm 1. Sức khoẻ: theo Tồ chức Y tế thế giới “sức khoẻ là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không bệnh hay tật" [4]. Khái niệm về cận thị: - Mắt bình thường: Là mắt có tiêu điếm sau của các tia sáng nằm đúng trên võng mạc, vỉ vậy cùng với khà năng điều tiết, mắt nhìn rõ được các vật ở gân và ở xa. Thị lực nhìn xa luôn lớn hơn hoặc bằng 10/10 [2], - Mắt Cận thị: là mắt có tiêu điểm sau của các tia sáng rơi ở phía trước vòng mạc, do đó mắt cận thị không nhìn rõ các vật ở xa, thị lực nhìn xa bao giờ cũng dưới 10/10 Hình ảnh về mat cận thị: Tiêu điểm sau của tia sáng rơi trước võng mạc 8 - Phân loại cận thị: Trong lâm sàng thường có hai loại cận thị là cận thị đơn thuần vá cận thị bệnh lý: + Cận thị dơn thuần: là cận thị do mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt, nhưng chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt còn trong giới hạn bình thường, chưa có thoái hoá võng mạc.
Loại cận thị này thường xuất hiện ở lứa tuổi học sinh đi học mức độ cận nhẹ và vừa (dưới - 6,0D). + Cận thị bệnh lý: là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của mất vượt quá giới hạn bỉnh thường. Có thế gặp các loại cận thị bệnh lý do biến dạng giác mạc và thể thuỷ tinh. Loại cận thị nặng ở mức độ từ -7,0D trở lên, có khi lên tới - 20,OD hoặc lớn hơn.
+ Cận thị có thể được phân chia thành 3 loại sau: Cận thị nhẹ < -3 D 9 Cận thị vừa ( cận trung bình) -3D đến -6 D Cận thị nặng > -6 D Điều trị cận thị: + Kính gọng hoặc kính tiếp xúc: Là một trong những biện pháp cần thiết đế điều chỉnh tật cận thị, tùy theo mức độ cận thị mà có những loại kính phù hợp, sử dụng kính không làm giảm cận thị, nếu bệnh nhân cận thị được đeo đúng số kính, thích hợp thì tiến triến cận thị sẽ chậm hon. + Vật lý trị liệu: Lảm phục hồi chức năng điều tiết, tăng cường tuần hoàn thế cơ mi, võng mạc, tăng cường trao đổi chất, làm giàm mệt mỏi, điều tiết nhẹ nhàng, giữ gìn được thị lực, dự phòng được cận thị. + Phẫu thuật: Đối với trẻ em cận thị có số kính tăng nhanh ( trên 1,0 D/năm) có thể can thiệp phẫu thuật ghép độn củng mạc để hạn chế mức độ tăng số kính và giãn lồi củng mạc. Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có độ cận ổn định có thể phẫu thuật điều trị cận thị bỏ kính bằng Laser excimer ( LASIK ).
Một số đặc điềm về giải phẫu mắt liên quan đến cận thị 1.1, Nhãn cầu * Hình thể và kích thước của nhãn cầu: Nhãn cầu là một bộ phận quan trọng nầm phía trước của hốc mắt, trong chóp cơ. Nhãn cầu cơ bân là một hình cầu, trục nhãn cầu tạo với trục hốc mắt một góc khoảng 22,5 độ. Trục trước sau của nhãn cẩu có chiều dài từ 20,5mm đến 29,2mm nhưng phần lớn ở vào khoảng từ 23,5mm đến 24,5mm. Nhãn cầu được câu tạo gom 3 lớp vó bọc và nội dung bên trong.
Các lớp vỏ bọc từ ngoài vào trong có: lớp giác mạc và củng mạc, lớp màng mạch và lóp màng thân kinh (võng mạc). Nội dung bên trong của nhãn cầu bao gồm những môi trường trong suốt. Nhãn cầu được chia làm hai phần: phẩn trước nhãn cầu gồm có giác mạc, mống mắt, góc mống - giác mạc, thể mi và thể thủy tinh. Phần sau nhãn cầu gồm có củng mạc, hắc mạc, võng mạc và dịch kính [7], * Các môi trường trong suổt Thuỷ dịch là một chất lỏng trong suốt nằm ở tiền phòng và hậu phòng.
10 Thể thủy tinh: là thấu kính trong suốt hai mặt lồi được treo cố định vào vùng thể mi nhờ các dây Zinn. TTT trước sau (dày) khoảng 4 mm, đường kính xích đạo (đường kính dọc) khoảng 8-10 mm, bán kính độ cong của mặt trước là 10 mm, mặt sau là 6 mm. Công suất quang học là 20- 22 D. Thề thủy tinh có hai mặt trước và sau, nơi hai mặt gặp nhau gọi là xích dạo của thể thuỷ tinh.