Chương 1: Phương Tây “Đông tiến” và nguy cơ của Trung Quốc cận đại 1. Bối cảnh chung của thế giới và khu vực châu Á nửa cuối thế kỷ 19 1. Tình hình Trung Quốc trước chiến tranh Nha Phiến năm 1840 1.3 Tình hình Trung Quốc sau chiến tranh Nha Phiến Trong chương này, học viên đề cập tới những vấn đề cơ bản sau: bối cảnh thế giới và khu vực thế kỷ 19 và những nguy cơ đe dọa nền độc lập mà Trung Quốc phải đối mặt. Chương 2: Văn hóa Trung Quốc trên con đường cận đại hóa (từ năm 1840 đến năm 1919).
“Cận đại hoá”- xu thế tất yếu của lịch sử cận đại châu Á 2. Phong trào Dương Vụ- bước khởi đầu của Cận đại hoá văn hóa Trung Quốc. Bước thử nghiệm “cận đại hoá toàn diện” qua Duy tân Mậu Tuất. Cận đại hoá văn hóa bằng con đường cách mạng tư sản của Tôn Trung Sơn.
Cận đại hoá văn hóa trên lĩnh vực tư tưởng- tinh thần qua Phong trào Tân văn hoá. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương hai đi sâu vào phân tích từng giai đoạn, từng nội dung cận đại hoá của văn hóa Trung Quốc kể từ sau chiến tranh Nha phiến năm 1840 cho tới năm 1919. Chương 3: Đặc điểm của cận đại hóa văn hóa Trung Quốc. Những trở ngại trên con đường cận đại hóa văn hóa Trung Quốc.
Đặc điểm của quá trình cận đại hoá Trung Quốc. Liên hệ với Việt Nam và Nhật Bản. Chương ba đề cập tới những vấn đề như: những trở ngại khiến cho con đường cận đại hoá của Trung Quốc (từ 1840 đến 1919) trở nên gập ghềnh, thiếu hiệu quả; các đặc điểm cơ bản về cận đại hoá của Trung Quốc; so sánh với Nhật Bản và Việt Nam- hai trường hợp có nhiều điểm tương đồng và khác biệt đối với cận đại hóa của Trung Quốc. Tài liệu tham khảo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com \ PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
PHƢƠNG TÂY “ĐÔNG TIẾN” VÀ NGUY CƠ CỦA TRUNG QUỐC CẬN ĐẠI 1.1 Bối cảnh chung của thế giới và khu vực châu Á nửa cuối thế kỷ 19 Giữa thế kỷ 19 là thời kỳ phát triển cực thịnh của chủ nghĩa tư bản thế giới. Sự phát triển phồn thịnh này gắn liền với công cuộc bành trướng xâm lược và tước đoạt tàn bạo của các nước phương Tây đối với các nước thuộc địa. Thuộc địa không chỉ là nơi vơ vét nguyên liệu và tiêu thụ hàng hoá mà còn có ý nghĩa rất quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản. Các nước đế quốc đua nhau chiếm đoạt những vùng đất còn “bỏ trống” trên thế giới.
Đúng như Lênin đã từng nói: “chủ nghĩa tư bản nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của mình, không khai thác những vùng đất mới đồng thời cuốn các quốc gia cổ kính phi tư bản chủ nghĩa vào vòng xoáy của kinh tế thế giới thì sẽ không thể tồn tại và phát triển”. Xâm lược thuộc địa là một sản phẩm tất yếu từ sự phát triển mâu thuẫn tư bản chủ nghĩa. Các nước Châu Á không ổn định lần lượt bị biến thành miếng mồi xâm lược của thế giới phương Tây cũng chính là kết quả của sự phát triển mâu thuẫn này. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong 30 năm cuối cùng của thế kỷ 19, liệt cường phương Tây càng điên cuồng mở rộng các cuộc bành trướng xâm lược thuộc địa, tạo nên tình trạng chạy đua trong việc chia cắt châu Phi và châu Á.
Sau những xâm chiếm và chia cắt, hệ thống thuộc địa của thực dân tư bản trên toàn thế giới đã cơ bản hình thành. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, việc phân chia châu Phi đã hoàn tất. Ở châu Á, Pháp thôn tính ba nước Đông Dương; Anh chiếm Ấn Độ, Miến Điện, Xiêm La, Mã Lai; Hà Lan chiếm Inđônêxia; Mỹ chiếm Philippin, Guyam; “Bàn tiệc đã dọn sẵn” hấp dẫn nhất châu Á do đất đai rộng lớn và giàu có là Trung Quốc bị các thực dân Anh- Pháp- Đức-Mỹ và Nga cùng nhau chiếm giữ. Riêng với trường hợp của Nhật Bản, thành công của công cuộc Duy tân Minh Trị khiến Nhật Bản- nước châu Á duy nhất được coi là một cường quốc có vị thế ngang tầm các nước tư bản phương Tây.
Sau chiến thắng Trung Quốc trong chiến tranh Giáp Ngọ, đặc biệt là cuộc chiến với Nga năm 1904-1905, Nhật Bản đã khống chế Triều Tiên và ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, chiếm cứ Đài Loan, các đảo Bành Hồ và nửa nam đảo Sakhalin. Sự xâm lược của thực dân phương Tây đem đến tai họa đối với các quốc gia và dân tộc ở châu Phi, châu Á và Mỹ La tinh. Cái gọi là “khai phá văn minh” mà các nước phương Tây đưa ra chẳng qua chỉ là tấm màn che giấu tội lỗi của sự tước đoạt dã man, sự hủy diệt các nền văn hóa cổ xưa và sự tàn sát người dân ở các vùng đất này. Kẻ thực dân đã phá hoại nền công nghiệp dân tộc của các nước bản địa, làm phá sản hàng nghìn hàng vạn các xưởng sản xuất thủ công, đẩy người dân vào tình thế thất nghiệp phải đi làm thuê, bị bóc lột tàn tệ bởi các ông chủ tư bản nước ngoài.
Tuy nhiên, có một sự thật khách quan là, việc phá vỡ “trạng thái dã man, bế quan tỏa cảng” của các nước phương Tây đối với các nước thuộc địa để cuốn họ “vào thế giới văn minh” cũng có mặt tích cực tương đối của nó. Đó là, tư bản phương Tây đã cấy mầm tư bản vào xã hội phương Đông lạc hậu. Chính sự xâm lược bành trướng về đất đai lãnh thổ, sự xuất hiện của mầm mống tư bản, sự du nhập, truyền bá mạnh mẽ văn hóa phương Tây- nền văn hóa được xem là tiến bộ nhất thời bấy giờ đã khiến các 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước phương Đông đã thức tỉnh sau giấc mộng dài. Sóng triều thời đại trào dâng, tiến lên để theo kịp trào lưu thế giới, trở thành một phần của thế giới văn minh hay giữ nguyên trạng xã hội đóng kín, lạc hậu, mơ màng về nền văn minh rực rỡ đã qua để rồi bị xâm chiếm? Ý thức về quốc gia dân tộc và văn hóa bản địa đặc sắc bùng cháy, các nước phương Đông bắt đầu suy nghĩ và hành động để tiến lên.
Trước thách thức của chủ nghĩa thực dân phương Tây và những đòi hỏi nội sinh trong nước, vào giữa thế kỷ 19, ở châu Á đã xuất hiện hàng loạt các cuộc cải cách và tư tưởng cải cách. Có những cuộc cải cách đã thành công như cải cách Minh Trị Duy tân năm 1868 ở Nhật Bản, cải cách của Chulalongcon (1851-1868) ở Thái Lan, có những tư tưởng cải cách không thành công như tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch… ở Việt Nam. Dù thành công hay thất bại, những cuộc cải cách này đều phản ánh xu thế và nhu cầu của thời đại, khát vọng tự cường dân tộc, thoát khỏi nguy cơ xâm lược từ ngoại bang, hội nhập để tiến kịp trào lưu thế giới. PGS Nguyễn Văn Hồng đã từng nhận xét: “… cải cách mở cửa chính là phản ánh khát vọng chuyển mình hội lưu thời đại của các quốc gia châu Á” [8, tr 75 ].
Tình hình Trung Quốc trƣớc chiến tranh Nha phiến. Trung Quốc là một quốc gia lớn cả về diện tích lẫn dân số. Các nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc là “thế giới Trung Hoa đầy bí ẩn và bất ngờ”. Để hiểu về Trung Quốc cần có một nhận thức đặc biệt, một tư tưởng đặc biệt.
Tác giả Lâm Ngữ Đường trong tác phẩm “Những thói xấu của người Trung Quốc” đã viết: “Trung Quốc là một nước lớn có lịch sử lâu đời, là một thế giới riêng, không thuộc về thế giới này…” Trung Quốc có nền văn minh lâu đời và liên tục, được hình thành từ sự hội lưu của hai dòng văn hóa: văn hóa Hoàng Hà ở phía Bắc và văn hóa Trường Giang ở phía Nam. Quá trình chinh phục bằng sự lan tỏa văn hóa và bằng cả vũ lực của các vương triều người Hán đã tạo nên diện mạo lịch sử- văn hóa của một quốc gia, một đế quốc phong kiến “Thiên triều” Trung Hoa. Người Trung Quốc cho mình là tinh hoa của vũ trụ, là trung tâm, các dân tộc xung quanh chỉ là “man di”, không cần đếm xỉa. Sức mạnh của 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa Hán, sau đó là của văn minh lúa nước mà Trường Giang là đại diện đã làm cho Trung Quốc càng đầy sức sống.
Người ta cho rằng “dòng nước nào chảy vào Trường Giang và Hoàng Hà cũng tan hòa với nó và chỉ làm cho nó mênh mông hơn thôi”. Tuy nhiên, niềm kiêu hãnh ấy đã lặng chìm vào dĩ vãng khi tộc Mãn Châu tấn công Trung Nguyên năm 1640. Người Mãn thuộc tộc Nữ Chân, sống chủ yếu ở vùng Hắc Long Giang với phương thức sống chủ yếu là săn bắn và hái lượm. Vượt qua Vạn lý trường thành, vó ngựa Mãn chinh phục cả Trung Nguyên.
Trong 200 năm, từ năm 1640 đến năm 1840, người Mãn đã xây dựng chế độ cai trị kết hợp giữa địa chủ Hán và chủ nô Mãn, nó đẻ ra một chế độ tàn bạo, tạo nên hận thù và chiến tranh sắc tộc. Hoàng đế Mãn Thanh là kẻ có quyền cao nhất, có cơ sở xã hội đáng tin cậy là quý tộc Mãn, công cụ để thống trị là quân đội bao gồm người Mãn và thu nạp thêm người Hán. Với quý tộc Mãn Thanh, sau khi vào Trung Nguyên đều trở nên xa hoa, tham ô, chuyên lo hưởng thụ. Càng có quân đội trong tay chúng càng chủ quan, bảo thủ.
Cuộc tranh giành quyền lực trong cung đình luôn xảy ra. Mâu thuẫn giữa quý tộc Mãn và quý tộc Hán ngày càng sâu sắc. Chính quyền Mãn Thanh thường tuyên bố Mãn- Hán một nhà nhưng trên thực tế thì chính sách hằn thù dân tộc của triều Mãn Thanh được thi hành rất tàn nhẫn. Đến giữa thế kỷ 19, Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, nền thống trị Mãn Thanh đã tạo ra một xã hội phong kiến lạc hậu, bảo thủ, tha hóa, thấp kém hơn nhiều so với mặt bằng thế giới lúc bấy giờ.
Lực lượng sản xuất chính của xã hội là nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề. Họ không có ruộng hoặc có rất ít. Phần lớn ruộng đất tập trung trong tay bọn địa chủ. Nông dân gánh vác tô thuế nặng nề.
Thường thường địa chủ thu 50-80% thu hoạch. Thương nhân cho vay nặng lãi cũng lợi dụng lúc nông dân gặp khó khăn như thiên tai, sưu thuế cao để bóp nặn nông dân.