CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HN&GĐ VIỆT NAM NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN 1. Lý luận chung về căn cứ ly hôn 1. Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn 1. Khái niệm ly hôn Quan hệ hôn nhân với đặc điểm là một mối quan hệ tồn tại lâu dài, bền vững trong đời sống xã hội gắn với cuộc đời của mỗi người được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương giữa hai người nam và nữ (mối quan hệ gắn bó vợ chồng).
Tuy nhiên mối quan hệ hôn nhân chỉ có sự bền vững mang tính tương đối vì trong cuộc sống vợ chồng có những xung đột về tính cách, về quan hệ xã hội mà cả hai vợ chồng không đủ kinh nghiệm để “hoá giải” dẫn đến những “mâu thuẫn sâu sắc” vợ chồng không thể chung sống với nhau được, vấn đề ly hôn bắt đầu xuất hiện để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi những mâu thuẫn gia đình. Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa và không thể tiếp tục duy trì đời sống chung. Ly hôn chính là khi trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng và quan tâm lẫn nhau.
Và việc duy trì hay cố níu kéo cuộc hôn nhân đó chỉ làm cho vợ chồng thêm mệt mỏi và không thể hàn gắn được. Mục đích của hôn nhân chính là xây dựng gia đình hạnh phúc. Vợ chồng cùng chung tay nuôi dạy con cái, nhưng khi hôn nhân có sự rạn nứt, trong nội bộ đời sống vợ chồng không thể đạt được những mục đích là ý nghĩa của hôn nhân thì dù cố gắng duy trì mối quan hệ đó cũng không thể mang lại hạnh phúc. 7 Trên quan điểm tự do hôn nhân, bao gồm cả tự do kết hôn và tự do ly hôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi học không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa.
Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ và không có hạnh phúc, với những mâu thuẫn sâu sắc mà trong một thời gian dài họ đã không giải quyết được. Thừa nhận quyền tự do ly hôn của vợ, chồng còn nhằm bảo vệ quyền lợi của những thành viên còn lại trong gia đình. Vì vậy, “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh.”2 Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng và theo quy định của pháp luật chỉ có vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn. Để ly hôn vợ, chồng hoặc cả hai người hoàn toàn tự do trong việc làm yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn của họ.
Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do Toà án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” 3. Cách giải thích này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn. Theo khái niệm này, ly hôn được phản ánh rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thoả đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên. Trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã giải thích tại Điều 8: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhân hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.Lenin – Toàn tập (1980), Tập 25, NXB Tiến bộ, Matxcova, Tr.
3 Từ điển luật học, NXB Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Tr. 8 Khi vợ, chồng ly hôn không những ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ tình cảm vợ chồng, chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau mà còn ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong gia đình. Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Phán quyết ly hôn của Toà án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định.
Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thoả thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Toà án công nhận ly hôn và ra phán quyết dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Toà xét xử và đưa ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Toà án có thể hạn chế hoặc ngăn chặn những hiện tượng vợ, chồng lạm dụng quyền tự do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội. Nhất là đối với những trường hợp một trong hai bên vợ chồng có quan hệ ngoại tình, không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình.
Vì ích kỉ cá nhân họ muốn ly hôn càng sớm càng tốt để rũ bỏ trách nhiệm với gia đình để chạy theo người tình. Việc Toà án cho vợ, chồng ly hôn hay bác đơn yêu cầu của họ phải dựa vào thực chất mối quan hệ vợ, chồng. Tuy nhiên, việc đánh giá thực chất mối quan hệ vợ, chồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Để đánh giá được thực chất mối quan hệ vợ, chồng đã thực sự rạn nứt và có thể hàn gắn được hay không đòi hỏi bản thân người Thẩm phán trực tiếp giải quyết phải có kinh nghiệm sống và kiến thức chuyên môn vững vàng.
Đồng thời phải điều tra xác minh thật kỹ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ, chồng. Phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ, chồng trong thời gian tiến hành giải quyết vụ kiện. Khi đã tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn của vợ, chồng, mặc dù đại diện Toà án đã tiến hành hoà giải hai bên vợ, chồng theo hướng 9 đoàn tụ gia đình. Phân tích và giải thích cho vợ chồng về hậu quả của ly hôn cũng như ảnh hưởng của việc cha, mẹ ly hôn đối với đời sống tinh thần của con trẻ.
Nhưng nếu trong trường hợp, vợ, chồng cương quyết ly hôn thì Toà án sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết. Từ những phân tích trên và theo quy định của pháp luật hiện hành có thể hiểu: Ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Toà án trên cơ sở căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Khái niệm căn cứ ly hôn Pháp luật nước ta cho phép vợ chồng có quyền tự do được ly hôn, tuy nhiên đó không có nghĩa là Toà án áp dụng căn cứ cho ly hôn một cách tuỳ tiện theo nguyện vọng của vợ, chồng. Giải quyết ly hôn một mặt phải bảo đảm lợi ích của con cái, của các thành viên khác trong gia đình và lợi ích của xã hội.
Do đó, Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cách xác định những điều kiện cần và đủ để cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước. Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa: “Căn cứ là cái làm chỗ dựa làm cơ sở để lập luận”. 4 Theo đó có thể hiểu ly hôn là sự tan vỡ của quan hệ hôn nhân thì căn cứ ly hôn là điều có thể dựa vào làm cơ sở để xác định quan hệ vợ chồng đã tan vỡ.
Những căn cứ này được pháp luật quy định xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới cho phép xoá bỏ quan hệ hôn nhân nhằm kiểm soát việc ly hôn được thực hiện một cách đúng đắn, khách quan, phù hợp với thực trạng quan hệ vợ chồng.Mác viết: “Về mặt hôn nhân, nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất, hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi. Việc Toà án cho phép phá bỏ hôn nhân 4 Nguyễn Lân, (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB.Tổng hợp, TP.Hồ Chí Minh, Tr. 10 chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó. Quan điểm của nhà lập pháp là quan điểm của tính tất yếu.
Khi căn cứ ly hôn theo luật định đảm bảo được “tính tất yếu” của sự việc, xã hội sẽ vận động thuận chiều theo hướng tích cực. Ngược lại, khi căn cứ ly hôn đi ngược lại “tính tất yếu” của sự việc, áp đặt ý chí của con người vào sự việc, xã hội sẽ vận động ngược chiều theo hướng tiêu cực. Ly hôn là sự chấm dứt quan hệ vợ chồng, điều kiện để vợ chồng được ly hôn là bản chất của quan hệ vợ chồng đã thực sự tan vỡ, do vậy căn cứ ly hôn phải là tổng hợp những hiện tượng ấy phải có mối quan hệ biện chứng với bản chất quan hệ vợ chồng thực sự tan vỡ. Bản chất của quan hệ hôn nhân tan vỡ được thể hiện ra bên ngoài với nhiều hiện tượng khác nhau, mỗi hiện tượng chỉ phản ánh được một khía cạnh của bản chất.
Thông thường không thể chỉ dựa vào một hiện tượng phản ánh bản chất mà xác định được quan hệ hôn nhân đã tan vỡ hay chưa mà cần căn cứ vào nhiều hiện tượng khác nhau để nhận thức đúng đắn về tình trạng của quan hệ hôn nhân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc.