Cân Bằng Lợi Ích Trong Triển Khai Cơ Chế Tự Chủ Tại Các Trường Đại Học Công Lập

Luận án phân tích cân bằng lợi ích trong việc triển khai cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

223
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1. Tổng quan về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các trường đại học công lập

1.2. Khái quát về trường đại học công lập

1.3. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các trường đại học công lập

1.4. Nội dung của tự chủ đại học

1.5. Các phương diện tự chủ cơ bản

1.6. Lợi ích của cơ chế tự chủ đại học công lập và cách tiếp cận của các bên liên quan

1.7. Quan điểm của nhà nước về cơ chế tự chủ đại học công lập định hướng nhu cầu xã hội

1.8. Quan điểm của các trường về tự chủ đại học như là công cụ chiến lược để thực hiện những ưu tiên và định hướng phát triển

1.9. Lợi ích của cơ chế tự chủ từ góc nhìn của người học, phụ huynh và công chúng

1.10. Hiệu quả và công bằng xã hội

1.11. Lợi ích của thực hiện trách nhiệm xã hội

1.12. Kinh nghiệm về tự chủ đại học ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam

1.12.1. Những điểm mạnh trong tự chủ về tài chính và nhân lực của đại học ở Nhật Bản

1.12.2. Những điểm mạnh trong tự chủ về tài chính và nhân lực của đại học ở Luxembourg

1.12.3. Những điểm mạnh trong tự chủ về tài chính và nhân lực của đại học ở Hoa Kỳ

1.12.4. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.13. Cơ sở khoa học của việc bảo đảm cân bằng lợi ích trong thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các trường đại học công lập

2. THỰC TRẠNG VỀ CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

2.1. Thực trạng thể chế điều chỉnh về lợi ích trong triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

2.2. Những thành tựu, kết quả bước đầu

2.3. Những hạn chế về thể chế

2.4. Thực trạng thực hiện phân bổ lợi ích trong triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

2.4.1. Về phân bổ lợi ích về tài chính

2.4.2. Về phân bổ lợi ích về tổ chức nhân sự

2.4.3. Về phân bổ lợi ích về học thuật

2.4.4. Về phân bổ lợi ích về nguồn lực

2.4.5. Về thực hiện trách nhiệm giải trình

2.4.6. Về quản lý, điều hành quá trình tự chủ đại học

2.5. Đánh giá chung

3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CÂN BẰNG LỢI ÍCH KHI XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN QUY CHẾ CHI TIÊU NỘI BỘ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

3.1. Định hướng đảm bảo cân bằng lợi ích trong triển khai thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

3.2. Định hướng tổng quát

3.3. Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đại học

3.4. Các nguyên tắc đổi mới giáo dục đại học dựa trên cân bằng các lợi ích

3.5. Các giải pháp đảm bảo cân bằng lợi ích trong triển khai thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

3.5.1. Nhóm giải pháp về thể chế

3.5.2. Nhóm giải pháp về tổ chức và cơ chế giám sát

3.5.3. Về công tác nhân sự

3.5.4. Nhóm giải pháp về mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị

3.5.5. Nhóm giải pháp về học thuật

3.5.6. Nhóm giải pháp về đầu tư, tài chính

3.5.7. Tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường

3.5.8. Không ngừng nâng cao tính trách nhiệm đối với xã hội của nhà trường

3.5.9. Nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm của các trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cân Bằng Lợi Ích Trong Tự Chủ Đại Học Công Lập

Cân bằng lợi ích trong tự chủ đại học công lập là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Tự chủ đại học không chỉ giúp các trường nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những thách thức trong việc quản lý tài chính và nguồn lực. Việc đảm bảo cân bằng lợi ích giữa sinh viên, nhà trường và xã hội là điều cần thiết để phát triển bền vững.

1.1. Khái Niệm Cân Bằng Lợi Ích Trong Tự Chủ

Cân bằng lợi ích trong tự chủ đại học đề cập đến việc điều chỉnh các lợi ích giữa các bên liên quan như sinh viên, giảng viên và nhà trường. Điều này giúp đảm bảo rằng mọi quyết định đều hướng tới sự phát triển chung và lợi ích xã hội.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Tự Chủ Đại Học

Tự chủ đại học là xu hướng tất yếu trong giáo dục hiện đại. Nó không chỉ giúp các trường đại học nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển bền vững thông qua việc quản lý tài chính hiệu quả.

II. Vấn Đề Cân Bằng Lợi Ích Giữa Sinh Viên Và Nhà Trường

Cân bằng lợi ích giữa sinh viên và nhà trường là một thách thức lớn trong việc thực hiện cơ chế tự chủ. Sinh viên mong muốn nhận được chất lượng giáo dục tốt nhất, trong khi nhà trường cần đảm bảo nguồn thu để duy trì hoạt động.

2.1. Lợi Ích Của Sinh Viên Trong Tự Chủ

Sinh viên được hưởng lợi từ việc tự chủ thông qua việc cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Họ có quyền yêu cầu các dịch vụ giáo dục tốt hơn và môi trường học tập thuận lợi.

2.2. Thách Thức Đối Với Nhà Trường

Nhà trường phải đối mặt với áp lực tài chính và yêu cầu từ sinh viên. Việc tăng học phí có thể dẫn đến sự không hài lòng từ phía sinh viên, trong khi nhà trường cần đảm bảo chất lượng đào tạo.

III. Phương Pháp Đảm Bảo Cân Bằng Lợi Ích Trong Tự Chủ

Để đảm bảo cân bằng lợi ích trong tự chủ đại học, cần có những phương pháp quản lý hiệu quả. Các trường cần xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ rõ ràng và minh bạch.

3.1. Xây Dựng Quy Chế Chi Tiêu Nội Bộ

Quy chế chi tiêu nội bộ là công cụ quan trọng giúp các trường quản lý tài chính hiệu quả. Nó cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc công bằng và minh bạch để đảm bảo lợi ích cho tất cả các bên.

3.2. Tăng Cường Giám Sát Và Đánh Giá

Việc giám sát và đánh giá thường xuyên các hoạt động tài chính và giáo dục sẽ giúp phát hiện sớm các vấn đề và điều chỉnh kịp thời, từ đó đảm bảo cân bằng lợi ích.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Cân Bằng Lợi Ích Trong Tự Chủ

Cân bằng lợi ích trong tự chủ đại học không chỉ là lý thuyết mà còn cần được áp dụng thực tiễn. Các trường đại học cần có những chiến lược cụ thể để thực hiện điều này.

4.1. Kinh Nghiệm Từ Các Quốc Gia Khác

Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công cơ chế tự chủ trong giáo dục đại học. Họ đã xây dựng được các mô hình quản lý tài chính hiệu quả, từ đó tạo ra sự cân bằng lợi ích giữa các bên.

4.2. Các Mô Hình Tự Chủ Thành Công Tại Việt Nam

Một số trường đại học tại Việt Nam đã áp dụng mô hình tự chủ thành công, tạo ra lợi ích cho sinh viên và nhà trường. Họ đã cải thiện chất lượng đào tạo và thu hút được nhiều nguồn lực tài chính.

V. Kết Luận Về Cân Bằng Lợi Ích Trong Tự Chủ Đại Học Công Lập

Cân bằng lợi ích trong tự chủ đại học công lập là một yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của giáo dục đại học. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, nhà trường và xã hội để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tương Lai Của Tự Chủ Đại Học

Tương lai của tự chủ đại học phụ thuộc vào khả năng cân bằng lợi ích giữa các bên. Các trường cần tiếp tục đổi mới và cải tiến để đáp ứng nhu cầu của xã hội.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ từ nhà nước để giúp các trường đại học thực hiện tự chủ hiệu quả. Điều này sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của giáo dục đại học.

14/08/2025
Luận án cân bằng lợi ích trong triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỰ CHỦ ĐẠI HỌC - PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC TIÊN TIẾN 1. Tự chủ đại học - xu thế của phát triển Trong điều kiện đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục đại học, là xu thế tất yếu chung nhằm mục đích là để các trường sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phản ứng tốt trước các tác động của thị trường luôn thay đổi và những yêu cầu mới của xã hội. Việc thực hiện hiệu quả tự chủ đại học đòi hỏi, trước hết cần nhận thức cho đúng bản chất của tự chủ đại học. Những vấn đề đặt ra cần được làm rõ từ các nghiên cứu quốc tế và trong nước, về: - Thế nào là tự chủ đại học: phải chăng chỉ ở 3 khía cạnh chính - Chuyên môn; Bộ máy tổ chức nhân sự; Thu chi tài chính? Thế nào là: Quyền tự chủ của trường đại học càng lớn thì đi kèm trách nhiệm xã hội càng cao? - Quyền tự chủ của nhà trường sẽ được trao cho một “Hội đồng trường” như thế nào? - Thế nào là trách nhiệm không chỉ trong chất lượng đào tạo mà còn với cả sinh viên, người sử dụng lao động mà còn với công chúng, với Nhà nước.

- Khi nhà trường được trao cơ chế tự chủ đại học thì Nhà nước có còn hỗ trợ đầu tư vào đó nữa không? Nếu còn thì mức độ như thế nào? - Phải chăng tự chủ đại học là chủ yếu tự chủ về chính? - Thế nào là môi trường đại học khai phóng, sáng tạo, có mặt bằng trình độ, hiểu biết cao? V. Vấn đề tự chủ đại học trên thế giới 11 Trên thế giới, tự chủ đại học là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học. Các nghiên cứu về các mô hình quản trị đại học trên thế giới thường tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nước và cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức độ tự chủ - thể hiện ở mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơ sở GDĐH - ở các quốc gia rất khác nhau, chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc.

Mặc dầu vậy, trong mô hình Nhà nước kiểm soát thì cơ sở GDĐH vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở GDĐH; bên cạnh đó, ngay trong mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở GDĐH. Một nguyên lý cơ bản đằng sau tự chủ đại học là các cơ sở GDĐH sẽ vận hành tốt hơn nếu họ được nắm vận mệnh của chính mình. Tự chủ sẽ tạo động lực để họ đổi mới nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động của mình, đồng thời cũng làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động giáo dục. Vì vậy, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là chuyển dịch dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, từ Nhà nước kiểm soát (state control) sang Nhà nước giám sát (state supervison).

Ví dụ như Nhật Bản thông qua Đạo luật Hiệp hội Đại học Quốc gia năm 2003 trao quyền tự chủ về mặt pháp lý cho tất cả các trường đại học với quyền lực nhiều hơn cho Giám đốc/Hiệu trưởng và Ban quản 12 trị trường. Năm 2005, Singapore cũng thông qua một luật tương tự trao quyền tự chủ cho 3 trường đại học của nước này. Gần đây, bang Nord Rhein-Westfalia, Đức cũng trao quyền tự quyết định cho 33 trường đại học trong việc tuyển dụng các giáo sư và các khóa đào tạo của trường. Có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự chủ ĐH trên thế giới như của Don Anderson and Richard Johnson (1998), Neave, G., (1997), tự chủ ĐH có thể được hiểu là sự chủ động trong quản lý của các trường ĐH trên 3 phương diện cơ bản: - Tự chủ về học thuật: về bản chất đó là sự chủ động trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường.

Các trường ĐH cần được tự quyết định về ngành học và chương trình đào tạo; các tiêu chuẩn học thuật và chất lượng; số lượng và phương thức tuyển sinh. - Tự chủ về tài chính: về bản chất đó là sự chủ động về việc đảm bảo các nguồn lực bên trong phục vụ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường. Các trường ĐH cần được tự quyết định và chủ động về khai thác, tìm kiếm các nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho tài sản tương lai; và cân đối các nguồn tài chính thu và chi nhằm đảm bảo hệ thống tài chính minh bạch, tuân thủ pháp luật, và không vụ lợi. - Tự chủ về tổ chức và quản lý: về bản chất đó là sự chủ động về các cách thức quản lý nguồn lực bên trong của nhà trường nhằm mục tiêu phát triển.

Các trường ĐH cần được tự quyết định và chủ động trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức, phân tách, thành lập các đơn vị trực thuộc, tuyển dụng, bổ nhiệm, đãi ngộ nhân tài đồng thời xây dựng một chiến lược phát triển có tầm nhìn và định hướng rõ ràng. Với những sự chủ động như vậy, các trường ĐH vừa đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong lâu dài vừa thúc đẩy sự cạnh tranh năng động và lành 13 mạnh trong toàn bộ hệ thống nhằm nâng cao sự đóng góp của hệ thống giáo dục ĐH tới sự phát triển của quốc gia đặc biệt là sự phát triển trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và cạnh tranh toàn cầu. Sự chủ động của các trường ĐH về cả 3 mặt: học thuật, tài chính, và tổ chức quản lý là không thể tách rời xét trên quan điểm hệ thống. Một ĐH không thể chỉ có tự chủ về tài chính, hoặc tự chủ về tổ chức quản lý mà tách rời với tự chủ về học thuật và ngược lại.

Điều này phản ánh tính nhất quản và tính toàn thể trong cách thức quản lý một tổ chức, một hệ thống. Tóm lại, việc tự chủ ĐH không những chỉ mang lại sự phát triển mạnh mẽ hơn cho hệ thống giáo dục đại học, bản thân mỗi trường ĐH tự chủ mà còn thúc đẩy tính trách nhiệm của các trường với sự phát triển của xã hội và đất nước. Theo “Tự chủ giáo dục ĐH Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (Mạnh Hải lược ghi)/ http://dantri.vn/giao-duc-khuyen-hoc/tu-chu-giao-duc-dh-viet-nam- va-., xu hướng chung trong khu vực và trên thế giới hiện nay vẫn là: 1) Tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học và mỗi nước thực hiện theo các cách khác nhau, phù hợp với điều kiện xã hội, giáo dục, kinh tế của từng nước. - Nhật Bản đẩy mạnh quyền tự chủ tài chính các trường đại học sau khi có luật cải cách giáo dục 7/2003 với sự khuyến khích kiểu doanh nghiệp đại học.

Bắt đầu từ năm 2004, các trường đại học quốc gia tại xứ “Mặt trời mọc” lần đầu tiên được nhận kinh phí trọn gói để chi tiêu. - Singapore, nước được xếp vào hàng có thu nhập cao và nền giáo dục ĐH phát triển nhất ở Đông Nam Á, cho phép các trường đại học được tự chủ và khuyến khích các trường tìm kiếm các nguồn vốn khác, đặc biệt là doanh nghiệp kể từ năm 2006. - Từ năm 2008, Hàn Quốc cũng đã thí điểm việc tăng cường tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học. Một số đại học lớn như ĐH Seoul được trao quyền nhiều hơn trong các quyết định tài chính 14 của họ.

2) Tuy nhiên, các trường vẫn chưa được phép tự chủ hoàn toàn tất cả các mặt: - Ở Nhật Bản, tuy Bộ GDĐT vẫn quy định mức học phí tiêu chuẩn hàng năm nhưng đã cho phép các cơ sở giáo dục đại học nâng mức học phí lên 20% nếu muốn. - Hongkong áp dụng tự chủ tài chính một phần trong giáo dục đại học. Các cơ sở có thể sở hữu, bán nhà cửa được hiến tặng hay tự đầu tư. Các trường đại học được vay vốn từ ngân hàng thương mại và thị trường tài chính.

Tuy nhiên, các trường đại học chỉ được quyền tự ấn định mức học phí cho những chương trình trường tự đầu tư. - Một nước ở Đông Á có nền giáo dục đại học phát triển, thí dụ như Hàn Quốc lại có cơ chế khác: Các trường công ở nước này vẫn tiếp tục chịu sự hạn chế trong những lĩnh vực tài chính, mặc dù đã có một loạt cải cách diễn ra từ năm 2005. Ngược lại, các trường đại học tư thục lại được mở rộng tự chủ về tài chính. - Tại CHDCND Lào, nước được xếp vào nhóm có thu nhập thấp như Việt Nam, Trường đại học Quốc gia Lào được trao quyền tự chủ một phần.

Cơ chế tài chính được thiết lập cho phép trường tự quản lý nguồn thu dưới sự giám sát của Hội đồng trường. 3) Tự chủ không có nghĩa là Nhà nước chấm dứt cấp kinh phí - Tại Singapore, chính phủ vẫn cam kết là chủ thể cấp ngân sách chính cho giáo dục đại học, các trường được tự định mức học phí và được trao quyền tự chủ hoàn toàn về nguồn nhân lực, kể cả ấn định mức lương. - Với các nước có thu nhập trung bình ở Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia., và ở Trung Quốc, chính phủ trao quyền tự chủ tài chính cho một số trường đại học, dưới dạng phân bổ ngân sách công theo cơ chế tài trợ 15 trọn gói, và cho phép cơ sở giáo dục linh hoạt hơn trong ấn định mức học phí cho một số chương trình và trong một số trường hợp. Các trường còn được điều chỉnh mức lương cơ bản của cán bộ.

Tuy nhiên, kể cả những cơ sở tự chủ vẫn bị hạn chế trong việc vay vốn thương mại và sở hữu tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ