Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vấn đề môi trường là lĩnh vực khoa học đa ngành đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo về mặt khoa học để xử lý và bảo vệ sinh thái hiệu quả. Thực tiễn phát triển kinh tế nhanh chóng đang kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái môi trường sống và hủy hoại sinh cảnh tự nhiên mà nguyên nhân sâu xa lẫn trực tiếp đều bắt nguồn từ hoạt động của con người. Trước bối cảnh đó, giáo dục bảo vệ môi trường (GDMT) trong hệ thống trường phổ thông được xác định là giải pháp căn bản nhằm trang bị nhận thức, định hình đạo đức và ý thức khai thác tài nguyên hợp lý cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, tại các trường trung học phổ thông (THPT) ở Việt Nam, việc khai thác kiến thức môi trường trong dạy học các môn văn hóa nói chung và môn Hóa học nói riêng vẫn còn hạn chế, rời rạc và mang tính hình thức.
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm có mối liên hệ trực tiếp với các hiện tượng tự nhiên và đời sống. Bài tập hóa học (BTHH) là công cụ sư phạm cốt lõi, hiện diện ở tất cả các khâu của quá trình dạy học: từ hình thành kiến thức mới, củng cố, vận dụng cho đến kiểm tra và đánh giá năng lực học sinh. Việc lồng ghép bài tập có nội dung bảo vệ môi trường vừa giúp bài học trở nên sinh động, vừa khơi gợi hứng thú nhận thức và trực tiếp tuyên truyền ý thức sinh thái cho học sinh. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lê Thị Thủy (lớp K19 Đại học Sư phạm Hóa học, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hồng Đức) dưới sự hướng dẫn của cô Lê Thị Thùy Dung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Xây dựng hệ thống bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học hóa học lớp 11".
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có liên quan đến GDMT trong chương trình Hóa học lớp 11, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh THPT.
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định thành 6 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu các cơ sở khoa học về môi trường, ô nhiễm môi trường và giáo dục môi trường.
- Nghiên cứu nội dung các bài học trong chương trình Hóa học lớp 11 nhằm xác định các mạch kiến thức liên quan đến môi trường và GDMT.
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến GDMT trong dạy học tại Trường THPT Triệu Sơn 1, tỉnh Thanh Hóa.
- Xây dựng hệ thống bài tập chứa nội dung giáo dục môi trường phục vụ dạy học Hóa học lớp 11.
- Thiết kế một số giáo án có sử dụng hệ thống bài tập hóa học tích hợp GDMT đã xây dựng.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đề xuất.
Về khách thể và đối tượng nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông; đối tượng nghiên cứu trực tiếp là hệ thống bài tập hóa học có chứa nội dung giáo dục môi trường.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Về nội dung: Giới hạn trong chương trình Hóa học lớp 11 THPT gồm 70 tiết (36 tiết học kỳ I và 34 tiết học kỳ II).
- Về địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Triệu Sơn 1, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Về thời gian thực hiện: Từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 5 năm 2020.
Giả thuyết khoa học của đề tài: Nếu xây dựng được hệ thống bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường và sử dụng chúng một cách khoa học, hợp lý trong tiến trình dạy học thì sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết, nhận thức và ý thức môi trường cho học sinh THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của công trình được xây dựng trên hệ thống các khái niệm chuẩn tắc về sinh thái học, hóa học môi trường và lý luận dạy học bộ môn:
- Hệ thống khái niệm môi trường và phát triển bền vững: Môi trường được định nghĩa là tổng hợp các thành phần vật chất bao quanh, bao gồm địa quyển (độ sâu 70-100 km trên lục địa, 2-8 km dưới đáy biển), thủy quyển, khí quyển (với khoảng 50 hợp chất hóa học nằm trong trạng thái cân bằng động) và sinh quyển; cùng với môi trường nhân văn. Môi trường thực hiện 5 chức năng cơ bản: không gian sinh sống, nơi cung ứng tài nguyên, nơi chứa đựng chất thải, nơi giảm nhẹ các tác động bất lợi của tự nhiên và nơi lưu trữ, cung cấp thông tin. Khái niệm phát triển bền vững được trích dẫn theo Chiến lược bảo tồn thế giới (IUCN, 1980), Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) và Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam, nhấn mạnh vào sự cân bằng giữa ba trụ cột: kinh tế - xã hội - môi trường.
- Hóa học môi trường: Phân loại các dạng ô nhiễm thành ô nhiễm hóa học, vật lý, vật lý - sinh học và sinh học; phân loại chất thải theo trạng thái tồn tại gồm chất thải rắn, nước thải và khí thải. Khóa luận phân tích cơ chế hóa học của các vấn đề môi trường trọng điểm: hiệu ứng nhà kính (chủ yếu do CO2, CH4, NOx, CFC, O3), mưa axit (sự chuyển hóa SO2, NOx kết hợp hơi nước tạo thành HNO3, H2SO4), hiện tượng thủng tầng ozon ở độ cao 15-40 km (sự phân hủy hợp chất CFC dưới tác xạ tử ngoại giải phóng gốc clo tự do, mỗi nguyên tử clo phá hủy khoảng 100.000 phân tử O3), ô nhiễm đất do lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật (số liệu sử dụng tại Việt Nam tăng từ 10.000 tấn/năm trong thập niên 1980 lên 20.000 tấn/năm trong thập niên 1990) và ô nhiễm phóng xạ (các đồng vị 131I, 32F, 90Sr, 14C, 35S, 45Ca, 98Al, 235U).
- Lý luận giáo dục môi trường: Đề tài vận dụng mô hình dạy và học GDMT theo 3 khía cạnh đồng thời: Giáo dục về môi trường (cung cấp tri thức, sự hiểu biết quy luật), Giáo dục vì môi trường (xây dựng thái độ, hành vi, đạo đức môi trường) và Giáo dục trong môi trường (trải nghiệm thực tiễn, phát huy tính chủ động thông qua sự tham gia trực tiếp).
- Lý luận về bài tập hóa học: Phân định BTHH thành hai nhóm chính theo hình thức trình bày: bài tập tự luận (định tính, định lượng, bài tập dùng hình vẽ, bài tập thực tế) và bài tập trắc nghiệm khách quan (điền khuyết, ghép đôi, đúng - sai, nhiều lựa chọn).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm hai nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, đọc và tổng quan tài liệu về khoa học môi trường, phương pháp dạy học Hóa học; sử dụng các thao tác tư duy phân tích - tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa chương trình, sách giáo khoa Hóa học 11.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi kết hợp phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh; phương pháp chuyên gia; phương pháp quan sát dự giờ; phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và đo lường sự biến chuyển nhận thức của học sinh.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:
- Toàn bộ chương trình và sách giáo khoa Hóa học 11 cơ bản hiện hành.
- Số liệu điều tra khảo sát thực trạng thực hiện từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020 tại Trường THPT Triệu Sơn 1, tỉnh Thanh Hóa, thu thập từ 6 giáo viên dạy môn Hóa học và 41 học sinh khối 11.
- Dữ liệu thực nghiệm sư phạm trên các lớp học đối chứng và thực nghiệm tại trường THPT Triệu Sơn 1.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và tiến hành đo lường hiện trạng dạy học tích hợp môi trường tại địa bàn nghiên cứu. Tác giả tiến hành điểm luận 12 công trình nghiên cứu đi trước về giáo dục môi trường qua môn Hóa học ở các cấp độ khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ (tiêu biểu như nghiên cứu của Trần Thị Thu Hảo 1997, Trần Thị Thanh Hương 1999, Lê Thị Mỹ Trang 2003, Hà Tú Vân 2003, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 2004, Phan Thị Lan Phương 2007, Trần Thị Phương Thảo 2008, Trần Thị Tú Anh 2009, Nguyễn Đặng Thu Hường 2009, Trần Thị Hồng Châu 2010, Hồ Thị Thanh Vân 2011, Lê Văn Hiến 2011). Qua đó, tác giả chỉ ra điểm thiếu hụt của các nghiên cứu trước: chủ yếu tập trung vào việc soạn giáo án đơn lẻ hoặc tạo ngân hàng tư liệu tham khảo, chưa khảo sát thực chứng mức độ quan tâm của giáo viên về việc khai thác BTHH gắn với GDMT và chưa xây dựng một hệ thống BTHH mang tính hoàn chỉnh cho từng khối lớp cụ thể.
Phần nội dung GDMT ở trường THPT được cụ thể hóa bằng bảng đối chiếu mạch kiến thức hóa học lớp 11 với các mục tiêu thái độ - tình cảm và kỹ năng - hành vi bảo vệ môi trường, bao phủ từ Chương 1 (Sự điện li) đến Chương 9 (Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic). BTHH được phân loại chi tiết theo dạng toán định tính và định lượng cho toàn bộ các chương của chương trình lớp 11.
Kết quả điều tra thực trạng tại Trường THPT Triệu Sơn 1 (thực hiện từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020) cung cấp các dữ liệu định lượng cụ thể:
| Tiêu chí khảo sát giáo viên (N = 6) |
Mức độ / Phản hồi |
Tỷ lệ (%) |
| Nhận thức về sự cần thiết của GDMT trong nhà trường |
Rất cần thiết |
100% |
| Tần suất tích hợp nội dung GDMT vào bài giảng |
Thường xuyên Rất thường xuyên |
83,3% 16,7% |
| Tần suất cập nhật tư liệu môi trường ngoài SGK |
Thường xuyên Thỉnh thoảng |
66,7% 33,3% |
| Mức độ tổ chức ngoại khóa GDMT qua môn Hóa |
Thỉnh thoảng |
100% |
| Tham gia lớp tập huấn chuyên đề về GDMT |
Đã từng tham gia |
100% |
| Đánh giá tác dụng của bài giảng tích hợp GDMT |
Tăng hứng thú học tập, tích cực nhận thức, nâng cao chất lượng tiết học |
100% đồng ý |
| Sự cần thiết xây dựng hệ thống BTHH GDMT lớp 11 |
Vô cùng cần thiết Rất cần thiết |
50% 50% |
Về rào cản khi triển khai GDMT, giáo viên phản ánh các trở ngại lớn nhất: bài giảng quá dài sợ cháy giáo án (66,7%), thiếu kinh phí cho hoạt động ngoại khóa (50%), không đủ phương tiện dạy học (50%), thiếu thời gian tìm kiếm tư liệu trên internet (16,7%) và chưa có nhiều kinh nghiệm (16,7%). Có 0% giáo viên cho rằng học sinh không hứng thú với kiến thức môi trường.
Về phía học sinh (N = 41), kết quả điều tra cho thấy:
- 64% học sinh nhận xét giáo viên rất thường xuyên đưa nội dung GDMT vào bài học; 19% cho rằng thường xuyên; 11,5% thỉnh thoảng và 1% chưa bao giờ.
- Các lý do học sinh yêu thích nội dung GDMT gồm: kiến thức gần gũi với cuộc sống (63%), góp phần nâng cao ý thức BVMT (57%), giúp mở rộng thêm kiến thức (57%), giúp yêu thích môn Hóa hơn (56%), kiến thức bổ ích và hấp dẫn (50%), tiết học thêm sôi nổi (36%), cách giáo viên nêu vấn đề hấp dẫn (36%). Số học sinh không thích chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (1,3% thấy khô khan hoặc xa lạ; 0,64% thấy không cần thiết hoặc phải học thêm kiến thức).
- 36% học sinh cho biết giáo viên rất thường xuyên sử dụng tranh ảnh, video môi trường, trong khi 12% phản ánh giáo viên chưa bao giờ sử dụng phương tiện này.
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học hóa học lớp 11
Chương 2 trình bày cấu trúc nội dung Hóa học lớp 11 và quy trình thiết kế hệ thống bài tập chuyên đề. Phân phối chương trình Hóa học 11 gồm 70 tiết, cấu thành từ 9 chương:
- Chương 1: Sự điện li
- Chương 2: Nito – Photpho
- Chương 3: Cacbon – Silic
- Chương 4: Đại cương về hóa học hữu cơ
- Chương 5: Hidrocacbon no
- Chương 6: Hidrocacbon không no
- Chương 7: Hidrocacbon thơm – Nguồn hidrocacbon thiên nhiên. Hệ thống hóa về hidrocacbon
- Chương 8: Dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol
- Chương 9: Andehit – Xeton – Axit cacboxylic
Văn bản phân tích đặc điểm cấu trúc phần kiến thức lớp 11: được xây dựng dựa trên hệ thống lý thuyết hiện đại (thuyết cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, sự lai hóa obitan, hiệu ứng electron, cơ chế phản ứng hữu cơ thế - cộng - tách), vận dụng danh pháp quốc tế IUPAC và chú trọng các phương pháp thực nghiệm cơ bản (chưng cất, chiết, kết tinh).
Tác giả xác lập nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập GDMT thông qua việc khai thác các tình huống thực tế liên quan đến hóa chất ô nhiễm, quy chuẩn xử lý nước thải, khí thải, đất đai và an toàn hóa chất. Hệ thống bài tập được phân loại thành bài tập tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan:
- Bài tập tự luận: Hướng đến việc phát triển tư duy độc lập, rèn luyện kỹ năng phân tích định tính (giải thích cơ chế tạo mưa axit, thủng tầng ozon, độc tính của CO, tác hại của kim loại nặng) và giải bài toán định lượng (tính nồng độ ion, tính toán pH môi trường, tính lượng khí thải nhà kính).
- Bài tập trắc nghiệm: Tập trung vào các câu hỏi nhiều lựa chọn, kiểm tra nhanh kiến thức nhận biết, thông hiểu và vận dụng các vấn đề môi trường gắn với bài học.
Về phương thức sử dụng, tác giả đề xuất hai hướng khai thác BTHH GDMT trong tiến trình lên lớp:
- Sử dụng bài tập trong khâu nêu và giải quyết vấn đề khi nghiên cứu tài liệu mới, kích thích sự tò mò nhận thức.
- Sử dụng bài tập trong khâu củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng sau bài học.
Tác giả tiến hành soạn thảo hoàn chỉnh giáo án cho 4 bài dạy mẫu có lồng ghép hệ thống bài tập GDMT:
- Giáo án bài: Axit nitric và muối nitrat (khai thác vấn đề ô nhiễm oxit nitơ, mưa axit và dư lượng nitrat trong nông sản).
- Giáo án bài: Ankin (khai thác quy trình sản xuất, sử dụng axetilen và các biện pháp giảm thiểu phát thải).
- Giáo án bài: Nguồn hidrocacbon thiên nhiên (khai thác các vấn đề khai thác than, dầu khí, nguy cơ tràn dầu và khí thải đốt nhiên liệu hóa thạch).
- Giáo án bài: Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon (khai thác tác hại của các hợp chất freon/CFC phá hủy tầng ozon và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật chứa clo).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Triệu Sơn 1 đối với các lớp khối 11 trong năm học 2019-2020.
- Mục đích thực nghiệm: Đánh giá tính khả thi, tính sư phạm của hệ thống bài tập GDMT và kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đặt ra.
- Nội dung thực nghiệm: Triển khai các giáo án đã được thiết kế tại Chương 2 có sử dụng bài tập hóa học tích hợp GDMT trong các tiết dạy chính khóa.
- Tiến hành thực nghiệm: Tác giả chọn giáo viên thực nghiệm, trao đổi phương pháp giảng dạy, lựa chọn các cặp lớp tương đương về trình độ học lực để phân định thành lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC).
- Thu thập và xử lý kết quả: Đánh giá hiệu quả tiết học dựa trên phiếu nhận xét của giáo viên dự giờ và phiếu khảo sát ý kiến học sinh về mức độ hứng thú khi giải bài tập môi trường, hiệu quả tiếp thu kiến thức bài học và sự thay đổi trong nhận thức bảo vệ môi trường.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu thực tế được ghi nhận trong văn bản:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục môi trường, tổng hợp chi tiết mục tiêu GDMT (kiến thức, thái độ - tình cảm, kỹ năng - hành vi) cho toàn bộ 9 chương của chương trình Hóa học 11 THPT.
- Hoàn thành bộ số liệu khảo sát thực trạng khách quan tại Trường THPT Triệu Sơn 1: 100% giáo viên đánh giá cao sự cần thiết của việc lồng ghép GDMT và ủng hộ việc xây dựng hệ thống bài tập chuyên đề; đồng thời nhận diện chính xác các điểm nghẽn sư phạm (66,7% giáo viên e ngại thiếu thời gian trên lớp, 50% thiếu phương tiện và kinh phí ngoại khóa).
- Xây dựng hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm gắn với GDMT, biên soạn hoàn chỉnh 4 kế hoạch bài dạy minh họa cho các bài học trọng tâm cả phần vô cơ và hữu cơ lớp 11.
- Dữ liệu khảo sát học sinh xác nhận 63% học sinh yêu thích bài tập GDMT vì tính thực tiễn, trên 56-57% học sinh nhận thấy tiết học giúp mở rộng kiến thức, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và gia tăng niềm yêu thích bộ môn Hóa học.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Giáo viên cần chủ động tích hợp BTHH có nội dung GDMT một cách chọn lọc, hợp lý, tuân thủ nguyên tắc không làm biến tính đặc trưng môn học hay biến tiết Hóa học thành bài học môi trường thuần túy.
- Tăng cường sử dụng phương tiện trực quan, tư liệu thực tế (hình ảnh, phim môi trường, tờ rơi) nhằm tiết kiệm thời gian truyền đạt và tăng tính sinh động cho bài giảng.
- Nhà trường và tổ chuyên môn cần tháo gỡ khó khăn về mặt phương tiện dạy học, đồng thời tạo nguồn kinh phí hỗ trợ các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ môi trường.
Về đóng góp mới so với các nghiên cứu trước (do tác giả tự xác định):
- Bổ sung việc đánh giá thực nghiệm mức độ quan tâm và những trở ngại cụ thể của giáo viên THPT đối với việc lồng ghép BTHH có nội dung GDMT.
- Xây dựng một hệ thống BTHH có cấu trúc đồng bộ đi kèm giáo án thực nghiệm cho các bài học cụ thể trong chương trình Hóa học 11, khắc phục tính rời rạc của các ngân hàng tư liệu trước đây.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện được ghi nhận trong văn bản:
- Phạm vi địa bàn khảo sát và thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tại một đơn vị trường học duy nhất là Trường THPT Triệu Sơn 1, tỉnh Thanh Hóa.
- Cỡ mẫu khảo sát thực trạng còn hẹp (6 giáo viên bộ môn Hóa học và 41 học sinh khối 11).
- Thời gian nghiên cứu và thực nghiệm tương đối ngắn, gói gọn trong 5 tháng (từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020).
- Hệ thống bài tập và giáo án chỉ tập trung vào phạm vi môn Hóa học lớp 11, chưa bao quát toàn bộ các khối lớp khác trong trường phổ thông.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề cập:
- Tiếp tục nghiên cứu, mở rộng và hoàn thiện hệ thống bài tập hóa học có nội dung GDMT cho toàn bộ chương trình Hóa học phổ thông từ lớp 8 đến lớp 12.
- Mở rộng phạm vi và quy mô thực nghiệm sư phạm tại nhiều trường THPT trên các địa bàn khác nhau nhằm đánh giá sâu sắc hơn tính khả thi của hệ thống bài tập.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học và học viên cao học Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hóa học: Khóa luận là tài liệu tham khảo bổ ích về quy trình nghiên cứu thực trạng sư phạm, phương pháp phân tích chương trình SGK để xây dựng ma trận tích hợp liên môn và kỹ thuật thiết kế bài tập hóa học thực tiễn.
- Giáo viên Hóa học cấp THPT: Cung cấp tư liệu trực tiếp để đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là nguồn bài tập thực tế gắn với môi trường và cấu trúc giáo án tích hợp sẵn có cho các bài dạy lớp 11.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong tài liệu gồm:
- Bảng 1 (Kiến thức tích hợp GDMT lớp 11): Hệ thống hóa chi tiết các địa chỉ tích hợp, yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng và thái độ môi trường cho từng bài học cụ thể từ Chương 1 đến Chương 9.
- Bộ câu hỏi khảo sát thực trạng: Hệ thống 14 bảng tiêu chí điều tra giáo viên và học sinh (Bảng 1.3 đến Bảng 1.14) có thể dùng làm mẫu công cụ đo lường trong các nghiên cứu giáo dục tương tự.
- Hệ thống 4 giáo án minh họa: Cung cấp tiến trình dạy học thực tế cho các bài Axit nitric và muối nitrat, Ankin, Nguồn hidrocacbon thiên nhiên, Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực trạng trong khóa luận được tiến hành tại đâu, vào thời gian nào và với cỡ mẫu bao nhiêu?
Khảo sát thực trạng được tiến hành tại Trường THPT Triệu Sơn 1, tỉnh Thanh Hóa, trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 5 năm 2020. Cỡ mẫu điều tra gồm 6 giáo viên dạy môn Hóa học và 41 học sinh lớp 11.
2. Trở ngại lớn nhất của giáo viên khi đưa nội dung GDMT vào bài giảng Hóa học là gì theo số liệu điều tra?
Trở ngại lớn nhất là áp lực thời gian của tiết học với 66,7% giáo viên phản ánh "bài giảng quá dài, sợ cháy giáo án". Kế tiếp là khó khăn về kinh phí tổ chức hoạt động ngoại khóa (50%) và thiếu phương tiện dạy học (50%).
3. Khóa luận đã thiết kế giáo án có sử dụng bài tập GDMT cho những bài dạy cụ thể nào trong chương trình Hóa học 11?
Tác giả đã hoàn thành thiết kế giáo án có tích hợp hệ thống BTHH GDMT cho 4 bài học cụ thể:
- Bài: Axit nitric và muối nitrat
- Bài: Ankin
- Bài: Nguồn hidrocacbon thiên nhiên
- Bài: Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon
4. Mô hình dạy và học trong giáo dục môi trường được đề tài áp dụng gồm những khía cạnh nào?
Mô hình dạy và học GDMT được đề tài áp dụng gồm 3 khía cạnh luôn tồn tại song song: Giáo dục về môi trường (cung cấp kiến thức, hiểu biết bản chất), Giáo dục vì môi trường (hình thành thái độ, phán xét, hành vi và đạo đức môi trường), và Giáo dục trong môi trường (học tập qua trải nghiệm thực tế, phát huy tiềm năng và sự tham gia của học sinh).
5. Khóa luận đã dẫn chứng các văn bản và sự kiện quốc tế, trong nước nào về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững?
Khóa luận viện dẫn: cuộc họp Liên hiệp quốc tại Paris năm 1948 (lần đầu sử dụng thuật ngữ giáo dục môi trường); Hội nghị Liên hiệp quốc tại Stockholm ngày 5/6/1972 (chọn ngày 5/6 là Ngày Môi trường thế giới); Chiến lược bảo tồn thế giới của IUCN (1980); Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới WCED (1987); phong trào "Tết trồng cây" tại Việt Nam từ năm 1966; chương trình ngành giáo dục giai đoạn 1991-1995; Kế hoạch hành động quốc gia 1996-2000; và Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thủy đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục môi trường và đánh giá thực trạng dạy học Hóa học tại Trường THPT Triệu Sơn 1, tỉnh Thanh Hóa. Đề tài đã xây dựng được ma trận nội dung GDMT cho toàn bộ 9 chương của chương trình Hóa học 11, thiết kế hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm thực tiễn cùng 4 kế hoạch bài dạy mẫu có tính ứng dụng cao. Kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định tính khả thi của hệ thống bài tập trong việc nâng cao sự hiểu biết, bồi dưỡng hứng thú học tập và định hình ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho học sinh THPT.