CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TKĐT, VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ KINH NGHIỆM TKĐT VEN SÔNG QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM 1.Tổng quan về thiết kế đô thị 1.Khái niệm chung về " TKĐT " Trong lĩnh vực Quy hoạch xây dựng, thiết kế đô thị (Urban Design) là một phần quan trọng, không thể thiếu đối với một đồ án quy họach xây dựng đô thị, là công cụ hữu hiệu của chính quyền trong quản lý đô thị. Vậy “ thiết kế đô thị” là gì? Có rất nhiều khái niệm. Nhưng không có định nghĩa nào phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh và biểu hiện của nó. Theo Luật Xây dựng Việt Nam, số 16/2003/QH11 đó được Quốc hội Khóa 11 thông qua ngày 26 thông 11 năm 2003 đó quy định “TKĐT là việc cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị về kiến trúc các công trình trong đô thị, cảnh quan cho từng khu chức năng, tuyến phố và các khu không gian công cộng khác trong đô thị.” Theo một số học giả trên thế giới thì cho rằng “ TKĐT là công việc nằm giữa quy hoạch và kiến trúc.
Nó xử lý các vấn đề tổ chức và thiết kế thành phố ở quy mô lớn, đặc biệt nó quan tâm đến vị trí, khối tích các công trình và các không gian giữa các công trình đó, nhưng không phải là thiết kế các công trình riêng biệt” ( tác giả Charles W.Steger) Cùng chia sẻ quan niệm này Jonathan Barnett lại định nghĩa TKĐT như là: sự tìm kiếm để lấp đi những lỗ hổng mà cả hai ngành kiến trúc và quy hoạch đô thị để lại, hay nó là một phần của quy hoạch thành phố, giải quyết cái đẹp và những cái định ra trật tự và hình thức đô thị và người thiết kế đô thị là người thiết kế thành phố mà không phải thiết kế từng công trình. 7 Theo Carmona TKĐT nên được hiểu theo nghĩa là “nâng cao chất lượng” cho các phát triển. Không cố gắng xác định ranh giới và phạm vi của TKĐT, ông xem: TKĐT là quy trình tạo lập nơi chốn cho con người có chất lượng tốt hơn những gì có thể được tạo ra nếu không có hoạt động này. Hamid Shirvani lại nói một cách ngắn gọn rằng: TKĐT là những nỗ lực nhằm bảo vệ chất lượng môi trường khi các thành phố biến đổi.
Môi trường ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng là cả không gian thực thể tự nhiên và nhân tạo và không gian kinh tế, văn hóa và xã hội. Cơ sở lý luận về thiết kế đô thị Trong các vấn đề bản chất của thiết kế đô thị, có sáu phạm trù nội dung cơ bản, hay nói một cách chính xác hơn- là sáu cơ sở lý luận làm nền tảng cho phê bình và thiết kế đô thị, đó là hình thái, cảm thụ, xã hội, thị giác, chức năng, thời gian.Cơ sở lý luận hình thái Hình thái chỉ những nội dung liên quan đến hình dạng của đô thị và việc bố trí, sắp xếp các công trình trong đô thị, dẫn đến sự hình thành các không gian có hình thức khác nhau. Trong ngôn ngữ hình thái học các đô thị được xem là sự tổ hợp của một số thành tố quan trọng: các loại sử dụng đất, cấu trúc công trình, hình dạng các lô đất, và quan trọng hơn cả là mạng lưới đường.kiến thức hình thái học giúp các nhà TKĐT hiểu các kiểu dạng, hình thức không gian khu vực, các quá trình biến đổi không gian trong lịch sử. Khi vận dụng những hiểu biết về hình thái vào thiết kế sẽ tạo ra các khu vực đô thị gắn bó giữa cũ và mới, duy trì được tính liên tục phát triển, sự trơn tru trong các sinh hoạt đô thị.
Cơ sở lý luận về cảm thụ Con người tác động vào môi trường và cũng chịu tác động của môi trường. Có sự tương tác này bởi vì chúng ta có thể cảm nhận được môi trường- tức là bị kích thích bởi ánh sáng, âm thanh, mùi vị và sự va chạm đó 8 chính là những đầu mối về thế giới xung quanh. Cảm nhận hay cảm thụ môi trường liên quan đến việc thu thập, tổ chức và gán nghĩa cho các thông tin về môi trường. Từ đầu những năm 1960, nghiên cứu về cảm thụ môi trường đã khá phát triển và đến nay đã có một lượng trí thức đáng kể về lĩnh vực này.
Giá trị của cơ sở lý luận này là ở chỗ nó nhấn mạnh cách thức con người cảm nhận, đánh giá, gán nghĩa cho môi trường đô thị. Như vậy một TKĐT thành công phải chứa những yếu tố hỗ trợ sự cảm thụ môi trường của con người, mang đến sự hài lòng và cảm giác thích thú cho họ. Cơ sở lý luận về xã hội Không gian và xã hội có mối liên quan rõ rệt và đây là mối quan hệ hai chiều: con người xây dựng hoặc biến đổi các không gian, đồng thời chịu ảnh hưởng của các không gian đó theo rất nhiều cách: các giao tiếp xã hội và sinh hoạt của con người có thể phát sinh trong không gian có thể bị kiềm chế bởi không gian, hoặc được phân bố giàn xếp bởi không gian. Vì vậy thông qua cách tổ chức và định hình các không gian người làm thiết kế đô thị có thể tác động đến các hoạt động của cộng đồng và đời sống xã hội.
Ngoài ra, hơn tất cấ các lý luận cơ sở khác, cơ sở lý luận xã hội của TKĐT còn đặt ra những vấn đề liên quan đến công bằng xã hội: bởi một quyết định trong quá trình TKĐT có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực đến quyền lợi cá nhân hay của một nhóm dân cư trong xã hội. Cơ sở lý luận về thị giác Rõ ràng là nghệ thuật kiến trúc và TKĐT là hai hình thức nghệ thuật công cộng thực thụ. Sống trong môi trường được tạo thành bởi các công trình hay tổ hợp các công trình kiến trúc, hiệu quả thẩm mỹ của những công trình và không gian tạo thành những công trình này luôn đập vào mắt công chúng bất kể họ có muốn chiêm ngưỡng chúng hay không. Vì vậy, nảy sinh yêu cầu với công tác TKĐT ( và kiến trúc) là phải tạo ra bộ mặt cảnh quan đô thị thỏa mãn nhu cầu cảm thụ thị giác của công chúng.
Yêu cầu này chính là cơ sở của 9 cơ sở lý luận thị giác hay thị giác- thẩm mỹ của TKĐT. Tuy nhiên, một công trình kiến trúc đẹp chưa chắc đã có tác động tích cực đến hiệu quả thẩm mỹ của cả khu vực không gian. Với nhà TKĐT, tính thẩm mỹ tổng thể luôn là nội dung quan trọng. Cơ sở lý luận về chức năng Là cơ sở lý luận rất quan trọng, làm thế nào để các sản phẩm TKĐT phục vụ tốt và tốt hơn nữa cho con người.
Các vấn đề cần xem xét trong trong cơ sở lý luận này là: cách thức của con người sử dụng không gian: các yêu cầu hay mong muốn của họ đối với các không gian ( chủ yếu là không gian công cộng vì đây là đối tượng chính của TKĐT) như: tính tiện nghi, tính thư giãn, tính lôi cuốn tham gia, lôi cuốn khám phá, tính tiện lợi di chuyển và sinh hoạt cộng đồng v.; quan hệ giữa không gian công cộng và không gian riêng tư; sự pha trộn chức năng và mật độ hợp lý; các yếu tố môi trường và vi khí hậu; và cuối cùng là hệ thống hạ tầng cơ sở và các công trình công cộng chính. Các nhà TKĐT cần phải làm sao để đạt được đồng thời các tiêu chí của một TKĐT tốt như vững chắc, tiện nghi, hấp dẫn và kinh tế. Cơ sở lý luận về thời gian Thực ra nhà thiết kế đô thị làm việc với không gian 4 chiều chứ không phải không gian 3 chiều, và chiều thứ tư chính là thời gian. Theo thời gian các địa điểm chở nên thân thuộc hơn, gắn bó hơn và chở thành các nơi chốn lịch sử.
Bề dày thời gian vì vậy chở thành một yếu tố chất lượng của không gian đô thị. ở đây, cơ sở lý luận thể hiện ở một số khía cạnh. Thứ nhất, các sinh hoạt đô thị diễn ra trong không gian và theo thời gian, môi trường không gian được sử dụng theo cách khác nhau tại các thời điểm khác nhau. Nhà TKĐT phải nắm vững được các chu kỳ thời gian của các hoạt động trong không gian để có thể thiết kế và quản lý các không gian này.
Mặc dầu đô thị biến đổi không ngừng theo thời gian, tính liên tục và ổn định trong phát triển là một tiêu chí chất lượng của tkđt. Vì vậy, nhà TKĐT phải nắm được cách thức môi 10 trường thay đổi: theo thời gian cái gì sẽ là bất biến, cái gì sẽ luôn biến động, và từ đó phải có khả năng thiết kế và quản lý môi trường để nó có khả năng tiếp nhận những thay đổi bất khả kháng theo thời gian. Tóm lại, với cơ sở lý luận thời gian, điều quan trọng nhất đối với những người làm công tác TKĐT là phải thấu hiểu những hàm ý và tác động của thời gian đến không gian. Sáu cơ sở lý luận trên: hình thái, cảm thụ, xã hội, thẩm mỹ, chức năng, và thời gian thực chất không tồn tại tách biệt và chồng lấp, liên hệ lẫn nhau và tạo thành các chủ đề hàng ngày của TKĐT.
Hoạt động của TKĐT chỉ có thể đạt được chất lượng tổng thể khi tất cả các cơ sở lý luận của vấn đề được cân nhắc đồng thời, cùng với sự xem xét các bối cảnh khu vực, toàn cầu, kinh tế và thể chế. Cơ sở lý luận về tự nhiên- sinh thái 1.Địa chất Địa chất học tập trung nghiên cứu: cấu trúc, đặc điểm vật lý, động lực, và lịch sử của các vật liệu trên Trái đất, kể cả các quá trỡnh hỡnh thành, vận chuyển và biến đổi của các vật liệu này. Trong các cuộc khảo sát địa chất, các nhà địa chất thường dùng các thông tin nguyên thủy liên quan đến thạch học (nghiên cứu về các loại đá), địa tầng học (nghiên cứu các lớp trầm tích), nghiên cứu về thế nằm và sự biến dạng của đá, và trong một số trường hợp, các nhà địa chất cũng nghiên cứu đất, sông, địa hỡnh, và băng hà; khảo sát sự sống hiện tại và quá khứ và sử dụng các phương pháp địa vật lý (nghiên cứu về cấu trúc, tính chất và môi trường địa chất của Trái Đất) để khảo sát phần bên dưới mặt đất. Địa văn học- Physiography Nghiên cứu bản chất hình thành và kết quả hình thành sự khắc hóa bề mặt vỏ.
Trái Đất gọi là địa mạo.