Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN 1. Đầu tư và đầu tư XDCB 1. Đầu tư Có rất nhiều quan niệm về đầu tư trên nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau nhưng hiểu một cách chung nhất: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư số 67/2014/QH13 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” [13, trang. Đầu tư xây dựng cơ bản Trong hoạt động đầu tư thì đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong vốn đầu tư; trong đầu tư phát triển thì đầu tư XDCB là chủ yếu. Đầu tư xây dựng công trình là hoạt động có liên quan đến bỏ vốn ở giai đoạn hiện tại nhằm tạo dựng tài sản cố định là công trình xây dựng, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền KT - XH như: các nhà máy, đường giao thông, hồ đập thuỷ lợi, trường học, bệnh viện…để sau đó tiến hành khai thác công trình, sinh lợi với một khoảng thời gian nhất định nào đó ở tương lai. Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 thì “Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư 7 xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [12, trang.
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Các công trình thông thường được chia thành các loại như nhóm A, nhóm B, nhóm C. Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình.
Đặc điểm của hoạt động đầu tư a. Đặc điểm chung của hoạt động đầu tư - Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở thời điểm hiện tại, nhằm mang lại những hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội ở tương lai, do đó quyết định đầu tư liên quan đến quyết định về tài chính, tổng mức đầu tư, nguồn hình thành vốn đầu tư, khả năng và thời gian hoàn vốn, cơ cấu vốn đầu tư .và hiệu quả về mặt xã hội do đầu tư mang lại. Có những hoạt động đầu tư đem lại hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội và cũng có nhiều hoạt động đầu tư chỉ mang lại lợi ích rất cao về mặt xã hội nhưng không khả thi trên phương diện tài chính. Như vậy, hoạt động đầu tư được nhìn nhận cả trên hai góc độ: hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội.
- Hoạt động đầu tư cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai. Nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện tại, hay nói cách khác, mục đích tối cao của đầu tư là hiệu quả; hiệu quả vừa là mục tiêu, động lực 8 vừa là phương tiện của hoạt động đầu tư. - Hoạt động đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm; đầu tư chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn, nhưng chưa thật chắc trong tương lai; chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm. Đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB Loại hình đầu tư xây dựng cơ bản thường đem lại kết quả không chỉ cho người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủ đầu tư mà của cả nền kinh tế, nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong vốn đầu tư, vì thế ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hoạt động đầu tư XDCB còn có các đặc điểm riêng biệt sau: - Hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
- Hoạt động đầu tư XDCB là hoạt động có tính chất lâu dài được thể hiện ở thời gian thực hiện đầu tư (thời gian xây dựng công trình của dự án), thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra. Đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thời gian thu hồi vốn thường đòi hỏi nhiều năm tháng; do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị và kinh tế. - Trong hoạt động đầu tư XDCB, do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài; nên các yếu tố kinh tế, chính trị, tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường hết khi lập dự án. Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư.
Sự thay đổi chính sách như: thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư. - Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm, có khi hàng trăm năm và tồn tại lâu dài., điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư. 9 - Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư gắn liền với quá trình sản xuất, công việc thường tiến hành ngoài trời và bị ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên. Trong hoạt động đầu tư XDCB, nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định, dẫn tới thời gian ngừng việc nhiều, chờ đợi, năng suất lao động thấp, dể gây tâm lý tạm bợ, tuỳ tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ, công nhân ở công trường.
Trong hoạt động đầu tư XDCB thì đầu tư từ NSNN thường chiếm tỷ trọng lớn, ngoài những đặc điểm nêu trên thì đầu tư XDCB từ NSNN có những đặc điểm riêng đó là: + Quy mô vốn đầu tư lớn: Các thành quả của hoạt động đầu tư chủ yếu là các công trình xây dựng được đầu tư từ nguồn vốn NSNN, đa số là các công trình lớn, có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển KT - XH; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu KT - XH của các vùng, địa phương hoặc ngành của nền kinh tế. + Về khả năng thu hồi vốn: Mặc dù tất cả các dự án đầu tư từ vốn NSNN đều là những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nhưng khả năng thu hồi vốn lại rất thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Do vậy, các dự án này thường không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác. Nói cách khác, đầu tư từ NSNN là hoạt động đầu tư chỉ hướng vào các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế không được phép đầu tư (an ninh quốc phòng), hay không muốn đầu tư vì không thu được lợi ích trực tiếp (hồ, thủy lợi, đê điều, nhà văn hóa, sân vận động cấp huyện…); hoặc không có khả năng đầu tư do phải sử dụng một lượng vốn đầu tư rất lớn như dự án đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV… + Nguồn vốn để thực hiện đầu tư là do NSNN cấp phát trực tiếp; đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với các hình thức đầu tư khác.
+ Việc quản lý vốn đầu tư rất khó khăn, dễ bị thất thoát lãng phí; đây là một đặc điểm rất quan trọng trong công tác quản lý vốn đầu tư; đặc biệt là vốn đầu tư XDCB; từ đó, đòi hỏi việc quản lý vốn đầu tư từ nguồn NSNN 10 phải được thường xuyên chú trọng, quản lý vốn cần theo đúng quy định của pháp luật. Chức năng đầu tư XDCB a. Chức năng tạo năng lực mới Chức năng này tạo ra năng lực mới của đầu tư XDCB; các năng lực mới tạo ra có giá trị sử dụng và thông qua đó các nhu cầu có thể được thoả mãn. Vì vậy, chức năng tạo năng lực đảm bảo duy trì hoặc phát triển sản xuất sản phẩm hàng hóa dịch vụ; bảo vệ và cải tạo môi trường nhằm hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng; chức năng năng lực được coi là chức năng đầu tiên của đầu tư XDCB.
Chức năng thay thế Chức năng thay thế của đầu tư XDCB biểu hiện khả năng thay đổi từng tổ hợp các nhân tố sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau của từng nhân tố này do kết quả của quá trình đầu tư; nó được thể hiện ở mức tiết kiệm chi phí trong khu vực sản xuất vật chất; cũng như trong khu vực dịch vụ nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế với chi phí xã hội ít hơn. Chức năng này của đầu tư XDCB ngày càng tăng lên với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và với việc hướng dẫn nền kinh tế hướng vào loại hình phát triển chiều sâu mà đặc trưng là thay thế có hiệu quả các yếu tố sản xuất. Chức năng thu nhập và sinh lời Chức năng này được xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình đầu tư xây dựng cơ bản mang lại. Chức năng thu nhập và sinh lời là sự kết hợp các chức năng năng lực và thay thế sẽ tạo điều kiện tăng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân.