Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Lý luận chung về tổ chức kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp. Chương 3: Thực trạng tổ chức kế toán tại Cục Dự trữ Nhà nước vực Hà Nội. Chương 4: Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Cục Dự trữ Nhà nước vực Hà Nội.
7 Chương 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 2. Tổng quan về đơn vị Hành chính sự nghiệp. Khái niệm đơn vị HSCN Đơn vị HCSN là đơn vị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó (các cơ quan chính quyền, cơ quan quản lý Nhà nước theo trong các ngành Giáo dục – Đào tạo, Y tế Văn hóa, Thể thao, Sự nghiệp, Nông lâm ngư nghiệp, trạm, trại) hoạt động bằng nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp toàn bộ hay chỉ một phần và các nguồn khác đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên theo nguyên tắc không hoàn trực tiếp. Các loại đơn vị hành chính sự nghiệp Các cơ quan Nhà nước gồm: - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; - Tòa án nhân dân các cấp; Viện Kiểm soát nhân dân các cấp; - Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh, thành phố thuộc Trung ương.
Theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ, các cơ quan Nhà nước được thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí chi tiêu thường xuyên cho hoạt động của cơ quan. 8 Các đơn vị sự nghiệp công lập: Bao gồm các cơ quan trong ngành Giáo dục, đào tạo, Y tế, Văn hóa - Thông tin, Thể thao, Sự nghiệp, Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Thủy lợi, sự nghiệp kinh tế khác. Các tổ chức đoàn thể xã hội được NSNN hỗ trợ một phần kinh phí để hoạt động gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Liên đoàn Lao động Việt Nam; Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội, đoàn thể khác được NSNN hỗ trợ. Theo phân cấp quản lý ngân sách người ta chia các đơn vị sự nghiệp thành các đơn vị dự toán cấp I là các đơn vị trực tiếp nhận và quyết toán kinh phí với cơ quan quản lý ngân sách trung ương như các Bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…Các đơn vị dự toán cấp I được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý và cấp phát ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp II.
Các đơn vị dự toán cấp II là các đơn vị nhận và quyết toán kinh phí được ngân sách cấp với các đơn vị dự toán cấp I và trực tiếp quản lý ngân sách của các đơn vị dự toán cấp III. Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp chi tiêu kinh phí cho hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm quyết toán kinh phí với đơn vị dự toán cấp trên theo quy định. Đặc điểm hoạt động của đơn vị HSCN. Các đơn vị HSCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có con dấu riêng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội hoặc đảm bảo an ninh quốc phòng.
Các đơn vị HSCN gồm nhiều loại hình hoạt động trong nhiều lĩnh vực với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Căn cứ lĩnh vực hoạt động người 9 ta chia các đơn vị sự nghiệp thành đơn vị sự nghiệp y tế, đơn vị sự nghiệp giáo dục, đơn vị sự nghiệp văn hóa… Căn cứ quan hệ với chủ sở hữu người ta chia các đơn vị sự nghiệp thành các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Các đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, các viên chức lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm. Các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập là những đơn vị do các tổ chức hoặc cá nhân góp vốn thành lập như các trường dân lập, tư thục, các bệnh viện tư… Căn cứ khả năng tự trang trải chi phí hoạt động, có đơn vị sự nghiệp có thu và các đơn vị sự nghiệp không có thu.
Trong các đơn vị sự nghiệp có thu người ta lại chia ra các đơn vị đảm bảo 100% kinh phí hoạt động thường xuyên, các đơn vị đảm bảo được một phần kinh phí hoạt động và các đơn vị không có nguồn thu… Các đơn vị sự nghiệp đều có đặc điểm chung là hoạt động bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp hoặc tự trang trải bằng nguồn thu sự nghiệp. Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến công tác kế toán của các đơn vị trong các đơn vị HSCN thể hiện trên các mặt. Trước hết, để phục vụ cho kiểm soát và thanh toán với ngân sách, kế toán các đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ chế độ kế toán do cơ quan có thẩm quyền quy định. Thứ hai, phục vụ cho tổng hợp số liệu về các khoản chi ngân sách, các khoản chi trong các đơn vị HCSN phải được hạch toán chi tiết theo từng chương, mục phù hợp với mục lục ngân sách.
Nguyên tắc tổ chức kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp Cũng như mọi hoạt động khác, tổ chức kế toán cũng phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là hiệu quả. Tuy nhiên tổ chức kế toán là hoạt động đặc biệt 10 sản xuất ra những thông tin có ích về vốn, kinh phí được huy động và sử dụng cho quản lý nên hiệu quả của tổ chức kế toán phải được xem xét toàn diện. Chính vì vậy để tổ chức kế toán khoa học cần phải dựa trên các nguyên tắc dưới đây: - Nguyên tắc 1, Bảo đảm tính thống nhất giữa kế toán và quản lý. Như trên đã phân tích, kế toán là một phân hệ trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm tra về hoạt động tài chính của các đơn vị hạch toán.
Vì vậy về nguyên tắc, tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất quản lý nói chung. Nguyên tắc thống nhất ở đây bao gồm thống nhất giữa đơn vị hạch toán kế toán với đơn vị quản lý (trước hết là đơn vị cơ sở) còn được hiểu là thống nhất về không gian quản lý và tổ chức kế toán theo yêu cầu quản lý; thống nhất mô hình tổ chức kế toán với mô hình tổ chức hoạt động và tổ chức quản lý; bảo đảm hoạt động quản lý phải gắn với kế toán và không được tách rời hoạt động kinh tế. Trên cơ sở đó, mọi quyết định liên quan đến tài chính trong đơn vị sự nghiệp phải có thông tin kế toán và các chỉ tiêu hạch toán phải phù hợp với chỉ tiêu quản lý và hướng tới chỉ tiêu quản lý. Trong các đơn vị sự nghiệp, bên cạnh bộ phận kế toán còn có nhiều bộ phận quản lý khác như kế hoạch, vật tư… Các bộ phận này phải có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống quản lý của đơn vị, Với tư cách là một bộ phận của hệ thống quản lý, tổ chức hạch toán kế toán phải luôn đảm bảo mối quan hệ giữa các bộ phận khác nhau để cung cấp thông tin nội bộ kịp thời, thống nhất quản lý, đối chiếu số liệu, đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch… - Nguyên tắc 2 - Bảo đảm tính phù hợp trong hệ thống kế toán (giữa đối tượng với phương pháp, hình thức và bộ máy kế toán) trong đơn vị kế toán và phù hợp với tính đặc thù của đơn vị hạch toán, đối tượng hạch toán.
Về lý thuyết, đối tượng hạch toán kế toán quyết định hệ thống phương pháp cùng 11 hình thức và bộ máy kế toán. Tuy nhiên trong tổ chức hạch toán kế toán ở từng đơn vị sự nghiệp cụ thể những mối liên hệ này cần được xét theo nhiều chiều khác nhau. Trong một đơn vị sự nghiệp cần tôn trọng những quan hệ có tính thống nhất như: trong mỗi phần hành kế toán cần tổ chức khép kín quy trình kế toán. Theo đó các phương pháp riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng phải được cụ thể hóa thích hợp với từng phần hành cụ thể.
Tùy tính phức tạp của đối tượng để lựa chọn hình thức kế toán, bộ máy kế toán và xác định các bước của quy trình kế toán thích hợp. Ngược lại khi trình độ cán bộ kế toán được nâng cao có thể tăng thêm tương ứng mức độ khoa học của phương pháp và hình thức kế toán… - Nguyên tắc 3, Bảo đảm tuân thủ các quy định, chế độ tài chính kế toán hiện hành và báo đảm tính quốc tế của nghề nghiệp. Hạch toán kế toán là công cụ quan trọng để Nhà nước kiểm tra, giám sát tình hình tài chính tại các đơn vị sự nghiệp tổ chức cung cấp dịch vụ công đồng thời là nguồn cung cấp thông tin tin cậy cho các đối tượng sử dụng. Do đó trong quá trình tổ chức hạch toán kế toán cần thiết phải nghiên cứu đầy đủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế và thực tiễn tổ chức quản lý của Việt Nam để thể hiện và triển khai phù hợp với yêu cầu quản lý của các cấp chủ thể.
Như chúng ta đã biết, các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế là những quy ước và định hướng chung về nghề nghiệp kế toán. Tuy nhiên những nguyên tắc và chuẩn mực này không thể áp đặt như nhau cho tất cả các quốc gia có hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau. Do đó tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện mỗi nước, mỗi quốc gia có thể xây dựng hệ thống chuẩn mực riêng của quốc gia mình sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể riêng có. Đối với các đơn vị sự nghiệp, việc nắm vững các quy định, chế độ về kế toán của Nhà nước trong triển khai các nội dung của tổ chức hạch toán kế toán là cơ sở đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán.