CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG NGÀNH BHXH 1. Tổng quan về đơn vị BHXH 1. Khái niệm BHXH, đơn vị BHXH Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 tại Điều 3 quy định là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH.
Luật BHXH tại Điều 3 có quy định, Bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Luật BHXH tại Điều 3 có quy định, Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định. Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ. Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp.
Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định. Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với người lao động tham gia BHTN. 8 BHXH là đơn vị SNCL nên có đầy đủ những chức năng, nhiệm vụ của một đơn vị sự nghiệp công lập. Từ những khái niệm về BHXH trên tác giả nhận thấy ý nghĩa quan trọng của việc tham gia BHXH.
BHXH ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau: - Đối với người lao động: Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao động về cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng. Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai.
Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. - Đối với xã hội: Quỹ BHXH là một nguồn tài chính độc lập ngoài ngân sách Nhà nước do các bên tham gia BHXH đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi thành viên khi bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra do tạm thời hay vĩnh 9 viễn mất khả năng lao động. Quỹ BHXH không những tác động tới quá trình phát triển kinh tế của đất nước mà còn góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới cho người lao động, từ đó giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động… dưới nhiều hình thức khác nhau như hình thức đầu tư phát triển phần "nhàn rỗi" của quỹ. Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.
Đặc điểm hoạt động của đơn vị BHXH Đơn vị BHXH là đơn vị SNCL nên có đầy đủ đặc điểm của một đơn vị SNCL, với các đặc điểm sau: - Đặc điểm hoạt động: BHXH Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT. + Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng; + Hoạt động của BHXH nhằm huy động sự đóng góp của người lao động và Nhà nước tạo lập tài chính để phân phối và sử dụng đảm bảo bù đắp một phần thu nhập nhất định nào đó cho người lao động khi có những sự cố xuất hiện như: tại nạn, ốm đau, hưu trí… điều đó có nghĩa là mục đích của BHXH lấy một phần thu nhập trong thời gian hoạt động bình thường để giành bảo đảm cho cuộc sống trong những ngày không lao động, không có thu nhập. - Đặc điểm quản lý BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về BHXH, BHTN; của Bộ Y tế về BHYT; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHTN, BHYT. Theo đó BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, 10 tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương gồm có: Ở Trung ương là BHXH Việt Nam; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH Việt Nam; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc BHXH tỉnh.
Đặc điểm quản lý tài chính trong đơn vị BHXH Nhìn chung, quản lý tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản sau: - Quản lý thu BHXH; - Quản lý chi BHXH; - Quản lý hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ; - Quản lý cân đối quỹ BHXH. * Quản lý thu BHXH. Quản lý thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp. Trước tiên chúng ta phải nắm được nội dung thu gồm hai khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.
Đây là khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu khác như: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của NSNN là nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trường hợp cần thiết. Hơn nữa đây là khoản thu mà tổ chức BHXH cũng không thể tự điều chỉnh được vì nó mang tính thụ động. Do vậy mà quản lý thu chỉ tập chung vào nguồn thu từ hai đối tượng chính người lao động và người sử dụng lao động.
Nội dung của quản lý thu lại tập chung vào ba đối tượng chính sau đây: Quản lý đối tượng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ chức BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thường các đối tượng này được quy 11 định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Hơn thế nữa BHXH cũng hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số đông bù số ít nên việc tham gia đầy đủ của các đối tượng tham gia BHXH là việc rất quan trọng. Quản lý đối tượng tham gia cần thực hiện các công việc sau: + Quản lý số lượng đăng kí tham gia BHXH; + Quản lý đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định; + Quản lý cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình đóng góp, ngành nghề lao động, thời gian lao động, tên người lao động và một số thông tin khác. Quản lý quỹ lương của các doanh nghiệp: Theo những quy định hiện hành như ngày nay thì phí thu BHXH thường được tính theo phần trăm tổng quỹ lương của doanh nghiệp và tiền lương tháng của người lao động nên quỹ lương còn là cơ sở để quản lý thu một cách thuận lợi.
Dựa trên quỹ lương của doanh nghiệp BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế được tình trạng gian lận trốn đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở thành những “đại lý” thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là thực sự thuận lợi cho thu phí nói riêng và thực hiện các chế độ BHXH nói chung. Quản lý tiền thu BHXH: Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp phí thông qua tài khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt được tình hình thu.
Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ ràng về thời gian nộp, hệ thống tài khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn cho việc nộp. Việc nắm bắt tình hình thu BHXH giúp quản lý quỹ dễ dàng, kịp thời điều chỉnh và đảm bảo cho chi trả được thực hiện một cách tốt nhất. Trong nội dung quản lý thu BHXH, tất cả các đóng góp BHXH sẽ được quản lý chung một cách thống nhất, dân chủ, công khai 12 trong toàn hệ thống. * Quản lý chi BHXH Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi quản lý và chi khác.
Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt là chi cho các chế độ, hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm cuộc sống của chính sách BHXH. Vì vậy nhắc đến quản lý chi là nhắc đến hai nội dung chính sau: Quản lý hoạt động chi trả cho các chế độ: Mục tiêu của hoạt động quản lý chi không với mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể mà quản lý để tránh tình trạng chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tượng vừa tránh lãng phí lại đảm bảo công bằng cho các đối tượng tham gia BHXH.