Chương 1. Cơ sở lý luận về quy chế trả lương cho người lao động tại công ty 2. Khái niệm, bản chất của tiền lương 2. Khái niệm tiền lương Tùy theo cách tiếp cận, phương thức vận hành nền kinh tế và trình độ phát triển của nền kinh tế mà người ta có những quan niệm khác nhau về tiền lương (tiền công).
Trong nền kinh tế tập trung bao cấp trước đây, người ta quan niệm rằng tiền lương (tiền công) là một phần của thu nhập quốc dân được biểu hiện bằng tiền được phân chia cho người lao động một cách có kế hoạch, trên cơ sở quy luật phân phối theo lao động. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng. Cũng có khái niệm cho rằng tiền công theo nghĩa rộng bao gồm cả các hình thức bù đắp mà doanh nghiệp trả cho người lao động. Nó gồm tiền lương, tiền thưởng và các hình thức trả tiền khỏc.Tiền lương là sô tiền trả cho người lao động theo một thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng, năm.
Ngày nay người ta đã đi đến thống nhất về khái niệm của tiền lương, dù cách diễn đạt về khái niệm này có thể có những điểm khác nhau.Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng ) ; phù hợp với quan hệ cung – cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên ổn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm…). Trần Thị Phương Trang - Đ4QL2 17 Hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần Hải Nguyên (PGS.TS Nguyễn Tiệp – TS Lê Thanh Hà.Giáo trình tiền lương tiền công trường Đại học Lao Động Xã Hội,năm 2007) Tiền lương sẽ chịu sự chi phối từ phía thị trường lao động và thỏa thuận giữa hai bên khi tham gia ký kết hợp đồng lao động sao cho phù hợp với từng ngành,nghề và điều kiện tài chính của mỗi doanh nghiệp 2. Bản chất tiền lương Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương (tiền công) không chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối bởi quy luật cung cầu lao động.
Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ giảm xuống, ngược lại nếu cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ tăng lên. Như vậy, tiền lương thường xuyên biến động xoay quanh giá trị sức lao động, nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt. Sự biến động xoay quanh giá trị sức lao động đó được coi là sự biến động thể hiện bản chất của tiền lương. Mặc dù tiền lương(giỏ cả sức lao động) được hình thành trên sơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng nú cú sự biểu hiện ở hai phương diện: kinh tế và xã hội.
Về mặt xã hội: thì tiền lương còn là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi thành viên gia đình cũng như bảo hiểm lúc hết tuổi lao động. Ngoài tiền lương cơ bản, trong quá trình quan hệ lao động người lao động còn nhận được các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng và các loại phúc lợi Cùng với sự phát triển của xã hội thì người lao động ngày càng có nhu cầu mở rộng kiến thức, có vị trí xã hội và làm chủ trong công việc. Đối với người lao động làm công ăn lương, tiền lương luôn là mối quan hệ đặc biệt hàng ngày đối với họ Bởi vì tiền lương là nguồn thu nhập chính nhằm duy trì và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ. Sự phân phối công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự tận tâm, tận lực của người lao động đó đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Ở mức độ nhất định, tiền lương có thể được xem là bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao động trong xã hội. Do đó Trần Thị Phương Trang - Đ4QL2 18 Hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần Hải Nguyên tiền lương có ý nghĩa như một khoản đầu tư cho người lao động phát triển về trí lực, thể lực, thẩm mỹ và đạo đức. Về mặt kinh tế: Tiền lương là kết quả của thỏa thuận trao đổi hàng hóa sức lao động của người lao động cung cấp sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận được một khoản tiền lương thỏa thuận từ người sử dụng lao động. Ở nước ta thì tiền lương được xác định trên cơ sở tính toán mức độ phức tạp của công việc và tiêu hao lao động trong các điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề.
Quy chế trả lương 2. Khái niệm quy chế trả lương Quy chế trả lương là văn bản quy định những nội dung, nguyên tắc, phương pháp hình thành, sử dụng và phân phối quỹ tiền lương trong cơ quan, doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính công bằng và tạo động lực trong trả lươ 2. Nội dung của quy chế trả lương Căn cứ được dùng để xây dựng quy chế trả lương: Một doanh nghiệp khi xây dựng quy chế trả lương đều phải đặc biệt chú ý là vừa đảm bảo đỳng cỏc quy định của Nhà nước, vừa phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh riêng của mình. Vì vậy xây dựng Quy chế trả lương phải căn cứ vào các nghị định, thông tư của chính phủ, các bộ ngành có liên quan.
Những nguyên tắc chung trong trả lương Phân phối tiền lương, tiền thưởng là nội dung quan trọng nhất trong Quy chế trả lương. Do đó để đảm bảo công bằng và trả lương gắn với giá trị hao phí sức lao động, kết quả thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động thì công tác trả lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1 : Trả lương ngang nhau cho những người lao động như nhau Nguyên tắc 2 : Bảo đảm năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Nguyên tắc 3 : Những người thực hiện các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kĩ thuật cao, tay nghề giỏi, đóng góp nhiều vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì được trả lương cao. Trần Thị Phương Trang - Đ4QL2 19 Hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần Hải Nguyên Nguyên tắc 4 : Chống phân phối bình quân, hệ số gión cỏch giữa người có tiền lương cao nhất và thấp nhất do doanh nghiệp lựa chọn, quyết định, nhưng tối đa không quá hai lần so với mức lương cao nhất áp dụng trong doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 26/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ và thấp nhất bằng hệ số mức lương quy định tại Nghị định 26/CP nói trên.
Phạm vi, đối tượng áp dụng * Phạm vi áp dụng quy chế : đối với doanh nghiệp, công ty có nhiều đơn vị thành viên thì trong mục này quy định những đơn vị, thành viên nào sẽ phải tuân thủ thực hiện theo Quy chế. * Đối tượng áp dụng : Quy định các đối tượng người lao động (quản lí, lao động trực tiếp…) được và không được áp dụng trong Quy chế. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ lương: a. Nguồn hình thành quỹ lương: Căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp xác định nguồn quỹ lương tương ứng để trả lương cho người lao động.
Nguồn bao gồm: Quỹ lương theo đơn giá tiền lương được giao. Quỹ lương này lớn nhất, chủ yếu gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quỹ lương từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ khác ngoài đơn giá tiền lương được giao. Quỹ lương bổ sung theo chế độ quy định của Nhà nước.
Quỹ lương dự phòng từ năm trước chuyển sang. Tổng quỹ lương là tổng số tất cả các quỹ lương được hình thành từ các nguồn nói trên. Sử dụng quỹ lương: Để đảm bảo quỹ tiền lương không vượt chi so với quỹ tiền lương được hưởng, dồn chi quỹ tiền lương vào cỏc thỏng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lương cho năm sau, có thể quy định phân chia tổng quỹ lương cho các quỹ như sau: Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán, lương thời gian, lương sản phẩm (ít nhất bằng 76% tổng quỹ lương) Trần Thị Phương Trang - Đ4QL2 20 Hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần Hải Nguyên Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất, chất lượng cao, có thành tích tốt trong công tác( tối đa không quá 10% tổng quỹ lương). Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao tay nghề giỏi.
Quỹ dự phòng cho năm sau( tối đa không quá 12 % tổng quỹ lương). Quy định trả lương, phân phối tiền lương tới tập thể, cá nhân người lao động: Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức lao động, doanh nghiệp quy định chế độ trả lương cụ thể gắn với kết quả cuối cùng của người lao động, từng bộ phận. Các doanh nghiệp sẽ lựa chọn các hình thức sau đây để trả lương cho người lao động: * Trả lương theo thời gian: trong hình thức này tiền công của công nhân được tính toán dựa trên mức tiền công đã được xác định cho công việc và số đơn vị thời gian( giờ hoặc ngày) thực tế làm việc. Hình thức trả công theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác quản lí.
Đối với những công nhân sản xuất thì hình thức trả lương náy chỉ áp dụng đối với những người lao động ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc do tính chất của sản xuất nếu trả công theo sản phẩm sẽ không đạt được chất lượng theo yêu cầu vì công nhân chỉ chạy theo sản phẩm mà bỏ qua số lượng. * Trả công theo sản phẩm: trong hình thức này, tiền công của người lao động sẽ phụ thuộc trực tiếp vào số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra và đơn giá trả công cho một dơn vị sản phẩm.