Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế GTGT Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Kết luận Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Cơ sở lý luận đối với công tác quản lý thuế GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT Ở Việt Nam, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng địmh hƣớng XHCN, Đảng và Nhà nƣớc ta đang thực hiện những đƣờng lối đổi mớichính sách kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc, tiến tới xu hƣớng toàn cầu hóa.
Vì thế thuế doanh thu không còn phù hợp nữa và cần đƣợc thay thế bằng một loại thuế mới hiện đại đã đƣợc áp dụng ở hầu hết các nƣớc phát triển trên thế giới là thuế GTGT. Ngày 05 tháng 07 năm 1993, theo quyết định số 486TC/QĐ/BTC của Bộ tài chính, thực hiện thí điểm thuế GTGT ở một số doanh nghiệp quốc doanh thuộc các ngành có quá trình chuyển từ sản xuất đến tiêu dùng thƣờng xuyên phải trải qua nhiều công đoạn (nhƣ sản xuất xi măng, sản xuất sợi, dệt, sản xuất đƣờng). Có tất cả 11 doanh nghiệp đăng kí và thực hiện thí điểm. Tiếp theo, Nhà nƣớc liên tục thực hiện cải cách thuế bƣớc 1(1990-1996) và cải cải cách thuế bƣớc 2.
Sau một thời gian tổ chức triển khai thực hiện luật thuế GTGT, tại kỳ họp Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 dự thảo luật thuế GTGT đã đƣợc thông qua dƣới sự chỉ đạo của chính phủ, các ban soạn thảo đã tích cực chuẩn bị các văn bản hƣớng dẫn thi hành luật thuế. Ngày 1 tháng 1 năm 1999 tại Việt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Nam, Luật thuế GTGT chính thức đƣợc áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định số18/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và thông tƣ số 89/1998/TT-BTC. (Nguồn: http://www.vn) Thuế GTGT là loại thuế đƣợc tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.Vì vậy thuế GTGT là loại thuế gián thu, phần thuế mà các doanh ngiệp, cá nhân kinh doanh nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) thực chất là do ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả, tức là ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế. Các doanh ngiệp, cá nhân kinh doanh đóng vai trò là ngƣời thu hộ thuế cho nhà nƣớc và là ngƣời nộp thay thuế cho ngƣời tiêu dùng.
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ khâu sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng (Phan Thị Cúc - Trần Phƣớc - Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2000, tr. Thuế GTGT mang tính xã hội hóa cao, đòi hỏi ngƣời nộp thuế (NNT) phải có ý thức trong việc chấp hành chính sách thuế nói chung và chính sách về thuế GTGT nói riêng. Đặc biệt trong mô hình quản lý theo chức năng, NNT tự tính tự khai, tự nộp hiện nay. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết của Nhà nƣớc.
Hoạt động và vận hành của thị trƣờng chƣa thật linh hoạt, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ, kỹ thuật cũng nhƣ trình độ quản lý thấp, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém, chƣa thích nghi và điều chỉnh nhanh nhạy để phù hợp với chính sách kinh tế mới. Vì vậy việc áp dụng thuế GTGT trong giai đoạn này là hết sức cần thiết. Thuế GTGT có những ƣu điểm nổi bật có thể khắc phục những khó khăn khi thực hiện luật thuế cũ. - Thuế GTGT có thể khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ.
Đồng thời việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệpcòn đòi hỏi các doanh nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cƣờng quản lý nhƣ: ghi chép ban đầu, mở sổ sách kế toán và mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới. Về lƣu thông hàng hoá, tuy trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát kéo dài, nhƣng vì thuế GTGT chỉ điều tiết trong phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên sẽ thúc đẩy việc lƣƣ thông hàng hoá thuận lợi. - Thuế GTGT sẽ khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu tƣ tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ đƣợc Nhà nƣớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp.
Đồng thời trong quá trình trực hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm nhƣ đối với những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao. - Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu đƣợc hƣởng thuế xuất 0% và đƣợc hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tƣơng tự của các nƣớc trên thị trƣờng quốc tế. - Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nƣớc.
Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao cấp từ nƣớc ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất. Đối với vật tƣ, nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhƣng đã có xem xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nƣớc. - Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hƣớng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nƣớc ta có thế mạnh nhƣ nông sản, lâm sản, thuỷ sản.
bằng các qui định cụ thể nhƣ không thu thuế GTGT đối với hàng do ngƣời sản xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế biến, thƣơng mại mua các mặt hàng, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các mặt hàng này nếu có hoá đơn GTGT đầu vào. - Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hoá. Bản chất thuế GTGT không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã đƣợc kết cấu vào trong giá. Điều này cũng đòi hỏi các Bộ, Nghành địa phƣơng phải có biện pháp quản lý hƣớng dẫn kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT.
Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT là sắc thuế có nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nƣớc: - Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN, Thuế GTGT huy động và xác định ngay từ khâu đầu và việc thu thuế GTGT ở khâu sau còn kiểm tra việc tính thuế GTGT đã nộp ở khâu trƣớc nên hạn chế đƣợc việc thất thu thuế, kiểm soát đƣợc nguồn thu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. - Kể từ khi luật thuế GTGT chính thức đƣợc thực thi, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp quy để hƣớng dẫn sửa đổi bổ sung. Thuế GTGT đã và đang từng bƣớc đƣợc hoàn thiện, khắc phục những tồn tại vốn có trong thời kỳ chuyển đổi và ngày một phát huy vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế thị trƣờng đầy biến động, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn của một sắc thuế trong điều kiện kinh tế thị trƣờng. Thuế GTGT góp phần điều tiết vĩ mô, vi mô nền kinh tế: - Luật thuế GTGT quy định các mặt hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế; về thuế suất cũng áp dụng các mức thuế suất khác nhau cho các nhóm hàng hóa dịch vụ.
Thông qua công cụ thuế nó tác động và làm thay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 đổi mối quan hệ cung và cầu trên thị trƣờng từ đó tác động đến sự đầu tƣ, sản suất và việc lựa chọn hàng hóa để sản suất kinh doanh và tiêu dùng. Từ đó góp phần điều tiết sản suất và và tiêu dùng; khuyến khích xuât khẩu hàng hóa; điều tiết thu nhập, đảm bảo tính công bằng xã hội; khuyến khích tăng năng suất, phát triển kinh tế xã hội. Thuế GTGT là công cụ kiểm soát hoạt động sản suất kinh doanh: - Thuế GTGT góp phần tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá phải có đầy đủ chứng từ hoá đơn hợp lệ theo luật định. Việc đăng ký mã thuế cùng với phƣơng pháp khấu trừ thuế đã buộc cả ngƣời mua, ngƣời bán thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ trong các hoạt động thanh toán.
Một số nội dung cơ bản của thuế GTGT 1. Phạm vi áp dụng Đối tƣợng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài). Ngƣời nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nƣớc ngoài chịu thuế GTGT bao gồm: - Các tổ chức kinh doanh đƣợc thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã; - Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác; - Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và bên nƣớc ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (nay là Luật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.