Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Do tính chất quan trọng của GDĐT đối với sự phát triển KTXH và bảo đảm QP-AN, trong những năm vừa qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về GDĐT nói chung và QLTC trong lĩnh vực GDĐT nói riêng. Mặc dù chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về cơ chế QLTC đối với các trường đào tạo SQQĐ nhưng các nghiên cứu trước đây về cơ chế QLTC đối với cơ sở GDĐT đã phần nào giải quyết được những vấn đề liên quan đến cơ chế QLTC đối với cơ sở GDĐT công lập. Khái quát các kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây có liên quan đến đề tài Luận án như sau: 1. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Về giáo dục đào tạo trong Quân đội - Nguyễn Hữu Huệ (2007) (Phương pháp thống kê nghiên cứu tình hình GDĐT trong các trường SQQĐ - minh họa qua số liệu của một số trường, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) xuất phát từ khái niệm chung về GDĐT đã đưa ra khái niệm về GDĐT trong Quân đội là “một hoạt động của lực lượng vũ trang nhằm tạo nguồn cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp với chuyên ngành đào tạo”. Hoạt động đào tạo trong các trường SQQĐ có đặc điểm: (i) Đào tạo theo kế hoạch và có địa chỉ, (ii) Sử dụng NSNN là chủ yếu, (iii) Nghề nghiệp gắn với đặc thù quân sự, (iv) Đầu ra do Bộ Quốc phòng đảm bảo, sử dụng, (v) Các đặc điểm riêng khác về quản lý học viên và giảng viên. - Bùi Thị Bích Nê (2016) (Đổi mới quản lý chi ngân sách trong các trường quân đội ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng) cũng khái quát lý luận về GDĐT trong Quân đội và đặc điểm của GDĐT trong các trường quân đội khá tương đồng với Luận án của Nguyễn Hữu Huệ nêu trên. Về khái niệm và các bộ phận cấu thành cơ chế quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục đào tạo công lập - Nguyễn Hồng Hà (2013) (Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các đơn vị dự toán trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đã trình bày khái niệm, nội hàm của quản lý, cơ chế QLTC trong đó phân biệt rõ thuật ngữ cơ chế và chính sách.
Khái niệm cơ chế QLTC được tác giả đề xuất: “Cơ chế QLTC là tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ QLTC được quy định trong một hệ thống các văn bản pháp quy do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về chế độ quản lý, cách thức điều hành, cách thức vận hành hệ thống tài chính quốc gia, hoặc một ngành, một cấp, của một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Khái niệm cơ chế QLTC được làm rõ hơn thông qua so sánh với khái niệm chính sách tài chính: “Chính sách tài chính là tổng hòa các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu, giải pháp, công cụ tài chính mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể của nền kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề huy động, phân phối, sử dụng và giám đốc tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu KTXH và tài chính đã xác định”. Khi nghiên cứu về cơ chế QLTC đối với các đơn vị dự toán, tác giả đề cập đến nội dung của QLTC đối với các đơn vị dự toán, chưa xác định rõ các bộ phận cấu thành cơ chế QLTC đối với đơn vị dự toán. - Nghiên cứu cơ chế QLTC đối với các trường đại học, Nguyễn Anh Thái (2008) (Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các trường đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) cho rằng cơ chế QLTC trong giáo dục là phương thức Nhà nước sử dụng công cụ tài chính tác động vào hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm định hướng, phát triển giáo dục.
Đối với giáo dục đại học thì cơ chế QLTC là tổng thể các phương pháp, hình thức, công cụ được vận dụng để quản lý hoạt động tài chính của các trường đại học trong những điều kiện cụ thể nhằm thực hiện được các mục tiêu trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài có trình độ cao phục vụ cho phát triển KTXH từng thời kỳ. Các bộ phận cấu thành của cơ chế QLTC đối với các trường đại học là: Cơ chế huy động, tạo nguồn lực tài chính; cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính; cơ chế phân phối chênh lệch thu - chi; cơ chế quản lý tài sản và cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính. Các bộ phận cấu thành của cơ chế QLTC được xác định chung cho cả trường đại học công lập và ngoài công lập nhưng với mỗi loại hình được phân tích 8 với nội dung khác nhau. Khi phân tích cơ chế QLTC của mỗi loại hình thì cơ chế phân phối chênh lệch thu - chi chưa được đề cập đến.
- Trong nghiên cứu về cơ chế tài chính thúc đẩy xã hội hóa giáo dục, TS Bùi Tiến Hanh (2007) (Hoàn thiện cơ chế QLTC nhằm thúc đẩy xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đưa ra khái niệm chung về cơ chế QLTC là tổng thể các nguyên tắc, hình thức, phương pháp, biện pháp tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động ở một tổ chức, đơn vị, lĩnh vực kinh tế xã hội. Cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục vừa có thuộc tính khách quan, vừa có thuộc tính chủ quan. Tính khách quan của cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục là do nó chịu chi phối bởi các nhân tố khách quan (ở tầm vĩ mô đó là các quy luật kinh tế khách quan, cơ chế quản lý kinh tế quốc dân của Nhà nước, thực trạng kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân, phong tục tập quán của dân tộc, trình độ dân trí, xu thế phát triển của thời đại; ở tầm vi mô là các quy luật khách quan của giáo dục, tính chất và đặc điểm của giáo dục, hiện trạng của nền giáo dục quốc dân. Tính chủ quan của cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục là do nó được con người xây dựng để tổ chức, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính diễn ra trong quá trình xã hội hóa giáo dục trên cơ sở nhận thức những nhân tố khách quan.
Đối với xã hội hóa giáo dục, cơ chế QLTC được tác giả xem xét dựa trên hai tiêu thức: Xét theo nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục, cơ chế tài chính xã hội hóa giáo dục bao gồm cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục và cơ chế quản lý các nguồn tài chính ngoài NSNN đầu tư cho giáo dục, còn nếu xét theo loại hình sở hữu cơ sở giáo dục, cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục bao gồm cơ chế QLTC đối với cơ sở giáo dục công lập và cơ chế QLTC đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong nghiên cứu về cơ chế tài chính thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam, tác giả coi cơ chế QLTC đối với giáo dục công lập là một bộ phận. Nội dung cơ chế QLTC đối với cơ sở giáo dục công lập bao gồm: Phân loại cơ sở giáo dục công lập theo mức độ tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp; tạo lập nguồn tài chính; nội dung chi và cơ chế sử dụng các nguồn tài chính; phân phối, sử dụng chênh lệch thu lớn hơn chi từ kết quả hoạt động tài chính; lập, chấp hành và quyết toán thu, chi; quản lý và sử dụng tài sản; công khai, kiểm tra, thanh tra tài chính. 9 - Ở tầm nhìn khái quát, bài viết “7 chính sách tài chính cho giáo dục đại học” (năm 2005) của Giáo sư Phạm Phụ nêu những vấn đề về tài chính cho giáo dục đại học gồm: Mức đầu tư hợp lý cho giáo dục đại học; Đầu tư tài chính cho đại học ngoài công lập; Sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính; Phân phối NSNN cho giáo dục đại học; Chia sẻ chi phí và học phí đại học; Học bổng và cho sinh viên vay; Tài trợ của cộng đồng.
- TS Lê Xuân Trường (2012) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng công lập, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Tài chính, Học viện Tài chính) cho rằng: cơ chế QLTC là cách thức tổ chức, phân phối và sử dụng nguồn tài chính phục vụ hoạt động. Cơ chế QLTC phải trả lời được các câu hỏi: (i) Nguồn tài chính lấy từ đâu? (ii) Ai là người quyết định nguồn thu? Phân định thẩm quyền quyết định các khoản thu như thế nào? (iii) Nguyên tắc tổ chức quản lý các khoản thu? (iv) Ai là người quyết định các khoản chi tiêu? Phân định thẩm quyền quyết định các khoản chi như thế nào? (v) Nguyên tắc cần tuân thủ của hoạt động chi tiêu? Điều kiện chi tiêu? (vi) Cách thức tổ chức giám sát và kiểm soát của Nhà nước?. Cơ chế QLTC được tác giả nghiên cứu ở đây là quản lý thu-chi tài chính, không bao gồm cơ chế quản lý tài sản đối với cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng công lập. Về cơ chế tạo nguồn tài chính cho các cơ sở giáo dục đào tạo đại học 1.
Nguồn tài chính của các cơ sở giáo dục đào tạo công lập - Khi nghiên cứu chuyên sâu về cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, Bùi Phụ Anh (2015) (Điều chỉnh cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) khái quát nguồn tài chính cho giáo dục đại học công lập gồm các nguồn tài chính đầu tư từ các khu vực: Chính phủ, tư nhân và các thành phần kinh tế khác. Trong đó, vai trò của chính phủ chiếm ưu thế ở những thập kỷ trước, còn trong giai đoạn hiện nay, đầu tư từ khu vực tư nhân được tăng cường hơn do những lợi ích mà giáo dục đại học mang lại.