Mở đầu Nội dung gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về quản lý nhân sự làm việc trong dự án giáo dục ở nhà trƣờng phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động quản lý nhân sự làm việc trong dự án quốc gia GDMT ở nhà trƣờng phổ thông VN - VIE/98/018. Chƣơng 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý nhân sự làm việc trong dự án quốc gia GDMT ở nhà trƣờng phổ thông VN - VIE/98/018.
Kết luận Ngoài ra còn có phần tài liệu tham khảo. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÂN SỰ LÀM VIỆC TRONG DỰ ÁN GIÁO DỤC Ở NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ LÀM VIỆC TRONG DỰ ÁN GIÁO DỤC Ở NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG Những tài liệu đầu tiên mô tả họat động của những “ngƣời quản lí nhà trƣờng” có thể đƣợc coi là đã xuất hiện vào thời kỳ phục hƣng trong cuốn sách của nhà giáo dục ngƣời Đức Johann Sturn (1507 – 1589). Vào năm 1537 “Hội thẩm đoàn” Strasburg nƣớc Đức, cần một “hiệu trƣởng” để tổ chức một trƣờng trung học (gynasium) địa phƣơng cho trẻ em trai.
Họ đã “thuê” Johann Sturn, một học giả phục hƣng đƣợc đào tạo theo lối cổ điển, với nhiệm vụ tổ chức nhà trƣờng, xây dựng chƣơng trình, hình thành các phƣơng pháp dạy học, thuê mƣớn và giám sát ( quản lí) nhân viên cho một trƣờng nam trung học có khoảng 600 học sinh. Trong bài báo viết năm 1923, Ensign F. đã nhận xét về những cống hiến của Sturn nhƣ sau: “Chúng ta thấy trong công trình của Sturn những vấn đề rất hiện đại nhƣ: các nguyên lý giáo dục, việc tổ chức nhà trƣờng, các giá trị giáo dục, lƣơng giáo viên, mối quan hệ của cha mẹ với nhà trƣờng, kỷ luật và hành vi của học sinh, vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo, việc dạy học theo lớp thay vì dạy học cho từng cá thể, trách nhiệm của giáo viên và nhiều vấn đề khác”. Nhà sƣ phạm lỗi lạc Cô - men - xki (1592 – 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trƣờng- một tài sản quí báu còn tồn tại đến ngày nay - đã tạo cơ sở cho việc ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lí giáo dục là “tổ chức hệ thống giáo dục” trên qui mô toàn xã hội.
Cô - men - xki đã đề xuất một hệ thống các trƣờng học dành cho các lứa tuổi khác nhau: trƣờng mẫu giáo dành cho trẻ em trƣớc 6 tuổi, trƣờng bản ngữ ( tiếng mẹ đẻ) dành cho trẻ từ 6 đến 12 tuổi; loại trƣờng này cần có mạng lƣới rộng khắp, ở mỗi làng xã; trƣờng la tinh (trƣờng gymnasie – trƣờng trung học) dành cho trẻ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ 12 đến 18 tuổi tại các thành phố; còn đối với thành niên từ 18 đến 24 tuổi sẽ đƣợc học tập tại các “hàn lâm viện” cấp quốc gia hoặc mỗi tỉnh lớn. Mặt khác Cô - men - xki lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục học đã nhấn mạnh đến sứ mệnh cao cả của ngƣời giáo viên đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao đối với họ nhƣ là một tấm gƣơng trong việc giáo dục giảng dạy học sinh. U - sin - xki (1824- 1870), nhà sƣ phạm vĩ đại ngƣời Nga, trong toàn bộ những công trình giáo dục học đồ sộ của mình đã dành những phần đáng kể để nghiên cứu về tính chất, mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng. Đặc biệt những quan điểm giáo dục dân chủ, dân tộc và nhân dân của ông rất gần gũi với những quan điểm quản lý giáo dục đƣợc phát triển trong thế kỉ XX.
Không thể không nhắc đến nhà giáo dục thực dụng chủ nghĩa nổi tiếng của phƣơng tây John Dewey, Mỹ (1859 - 1952) với những công trình nghiên cứu giáo dục học gây nhiều tranh cãi. Bên cạnh những quan điểm thực dụng chủ nghĩa của ông về giáo dục, John Dewey đã có những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối liên hệ giữa nhà trƣờng và xã hội cũng nhƣ nhận định của ông về một nền giáo dục hƣớng tới một kết quả cụ thể - dẫu rằng có dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng. Tuy vậy, cho đến đầu thế kỉ XX, vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu độc lập về quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục 1.
Khái niệm Trong quản lý cũng nhƣ trong các lĩnh vực thực hành khác, khoa học và nghệ thuật có mối quan hệ với nhau, khoa học càng tiến bộ thì nghệ thuật càng hoàn hiện và khi nghệ thuật càng cao sẽ thúc đẩy khoa học chính xác hơn, hoàn thiện hơn. Cho tới nay các nhà khoa học đều cho rằng, ngành khoa học quản lý còn khá sơ sài và thiếu chính xác (45. 19), trong khi đó tình huống mà ngƣời quản lý phải xử lý lại cực kỳ phức tạp, buộc ngƣời ta phải vận dụng tài nghệ quản lý, sử dụng nghệ thuật quản lý nhiều hơn. Điều đó đặt ra cho các nhà khoa học phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học quản lý nói chung và chức năng kế hoạch và quyết định nói riêng để không ngừng nâng cao tính khoa học của quản lý.
Xuất phát từ các loại hình "hoạt động quản lý", Fayol Henri (1841 - 1925) là ngƣời đầu tiên đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (forecasting and planning) Tổ chức (organizing) Chỉ huy (commanding) Phối hợp (coordinating) Kiểm tra (controlling). mà sau này chúng đƣợc kết hợp thành bốn chức năng kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra. Sự phân định các chức năng quản lý theo cách của Fayol Henri dựa trên nguyên tắc phân công lao động có tính tƣơng đối và hữu ích trong ứng dụng thực tiễn để làm tƣờng minh cho các hoạt động của ngƣời quản lý trên căn bản của tƣ duy phân tích để nâng nên thành tƣ duy quản lý. Nhƣ vậy, lịch sử phát triển của khoa học quản lý đã có từ rất sớm.
Từ khi con ngƣời có lao động, có tổ chức nhằm mục đích sản xuất ra của cải cho xã hội thì đã có hoạt động quản lý. Chức năng tối quan trong trong hoạt động quản lý có lẽ là kế hoạch hoá và quyết định. Nhiều tác giả quan niệm ra quyết định là một chức năng hàng đầu của hoạt động quản lý với kế hoạch hoá là một phƣơng thức nên có thuật ngữ quyết - định - kế - hoạch. Các tác giả khác lại cho rằng kế hoạch hoá là chức năng có tính tổng quát hơn, trong đó ra quyết định chỉ là hoạt động bộ phận, là khâu cuối cùng của quá trình kế hoạch hoá.
Đối với bất kỳ ngƣời quản lý nào cùng vậy, họ đều phải làm công việc kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Và ở bất kỳ chức năng nào, bất kỳ cấp quản lý nào, ngƣời quản lý vẫn là ngƣời phải ra quyết định. Trong Việt ngữ, từ quản lý giáo dục đƣợc hiểu nhƣ việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động giáo dục cũng nhƣ quản lý tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa. Trong tiếng Anh có phức tạp hơn, bởi có hai từ “đồng nghĩa” nơi mà ngƣời Mỹ, ngƣời Úc hiểu là quản lý thì họ dùng từ “administration” còn ngƣời Anh lại dùng từ “management”.
Còn chuyển sang tiếng Việt các tác giả Việt Nam gọi “management” là quản lý, gọi “administration” là quản trị. Nhƣ vậy, là có sự khác nhau giữa quản lý, quản trị. Theo West - Burnham (1992) tiếp thu ý tƣởng của Torring và Weightman nêu lên năm 1989, khi phân biệt rằng: (i) Lãnh đạo là hoạt động liên quan đến việc xác định giá trị, tầm nhìn, sứ mệnh của tổ chức; còn (ii) Quản lý là hoạt động liên quan đến việc thực hiện, kế hoạch, tổ chức, nhân sự; trong khi đó (iii) Quản trị liên quan đến những vấn đề tác nghiệp cụ thể, chi tiết. Quản lý giáo dục thƣờng đƣợc coi là một hoạt động thực tiễn.
Việc xác định các mục tiêu giáo dục, phân bổ các nguồn lực cũng nhƣ việc đánh giá tính hiệu nghiệm của quá trình giáo dục (kết quả giáo dục) tất cả đều là những hoạt động mà nhà quản lý giáo dục cần phải thực hiện. Chúng ta đều biết, không thể thực hành mà không có sự dẫn đƣờng của lý luận. Nhƣng chúng ta cũng biết rằng lý luận (giáo dục) phải gắn liền với thực tiễn (giáo dục), phải xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Một số các lĩnh vực mà nhà quản lý giáo dục thƣờng tham gia là: Quản lý chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên Quản lý số lƣợng và chất lƣợng đào tạo (sinh viên, hiệu quả trong, hiệu quả ngoài của quá trình đào tạo) Quản lý điều kiện môi trƣờng và cơ sở vật chất thiết bị đào tạo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý qui chế đào tạo (các qui chế và văn bản, quyết định.) Quản lý tài chính, tiền lƣơng chế độ.
Nhƣ vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng quản lý giáo dục là một hoạt động xuất phát từ thực tiễn và gắn chặt với yêu cầu của thực tiễn. Đặc điểm Thứ nhất, khoa học quản lý giáo dục có tính liên ngành khoa học Là một chuyên ngành khoa học non trẻ, đồng thời dựa trên và có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học sinh ra trƣớc và sau nó, khoa học quản lý giáo dục tất yếu sẽ sử dụng bộ máy khái niệm, phạm trù đã đƣợc sinh thành và sử dụng trong nhiều ngành khoa học hữu quan cũng nhƣ có ngoại diên rộng hơn, biểu đạt cái chung nhiều hơn khi có những biến thái thích hợp vào lĩnh vực phản ánh chuyên biệt hơn, đặc thù hơn của mình. Vì vậy, các khái niệm, phạm trù của khoa học quản lý giáo dục có đặc điểm liên ngành khoa học rất rõ nét. Có thể khẳng định rằng, khoa học quản lý giáo dục, trong quá trình phát triển, đã hình thành nên các khái niệm, phạm trù của riêng mình với tính chất liên ngành khoa học vốn là thuộc tính khoa học quản lý nói chung và khoa học quản lý giáo dục nói riêng.
Thứ hai, phản ánh những hiện tƣợng, những hoạt động, sự vật thuộc về thực tiễn quản lý giáo dục. Chính đặc điểm này cho phép chúng ta phân biệt các khái niệm, phạm trù khoa học quản lý giáo dục với các khái niệm, phạm trù của các khoa học khác.