CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN 1. BÁO CÁO KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO KẾ TOÁN 1. Định nghĩa báo cáo kế toán Ở Việt Nam, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, có rất nhiều định nghĩa báo cáo kế toán khác nhau: “Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế về tình hình và kết quả kinh doanh, sử dụng vốn của đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu báo cáo quy định” (1). “Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính phản ánh tình hình tài sản tại một thời điểm và kết quả hoạt động kinh doanh của Xí nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một biểu mẫu báo cáo đã quy định” (2).
Các định nghĩa trên đều thống nhất rằng báo cáo kế toán là một trong các phương pháp của kế toán được sử dụng để thực hiện các chức năng phản ánh và kiểm tra đối với đối tượng kế toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước theo định hướng XHCN, quan niệm về báo cáo kế toán có sự thay đổi: “Báo cáo kế toán định kỳ là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ và nguồn vốn, cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nhằm phục vụ các yêu cầu thông tin cho việc đề ra các quyết định của chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan, tổ chức chức năng” (3). Trang 10 123doc Chú thích: (1) Vũ Huy Cẩm, (Trường ĐH Tài chính kế toán), Giáo trình kế toán công nghiệp (Lưu hành nội bộ), Hà nội, 1982, trang 261, 262 (2) Dương Nhạc, (Trường ĐH Tài chính kế toán), Kế toán xí nghiệp sản xuất (tập II), NXB Thống kê, Hà nội, 1991, trang 184 (3) Chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng cho doanh nghiệp (Ban hành theo quyết định số 1206-TC/CĐKT ngày 14/12/1994 của Bộ Tài Chính) Trang 11 123doc Hiện nay, kế toán được phân chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị theo định hướng xử lý và cung cấp thông tin gắn liền với yêu cầu quản lý nội bộ và đáp ứng cho nhu cầu của các đối tượng khác bên ngoài. Kết quả của kế toán quản trị là hệ thống báo cáo nội bộ phục vụ cho yêu cầu hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của bản thân đơn vị kế toán.
Ở quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT, ban hành ngày 1/1/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thuật ngữ “Báo cáo tài chính” lần đầu tiên được sử dụng trong văn bản pháp quy về kế toán Việt Nam. Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) cũng xác định “Báo cáo tài chính được soạn thảo và trình bày cho những người sử dụng bên ngoài bởi các doanh nghiệp trên thế giới” Theo chuẩn mực kế toán quốc tế “Báo cáo tài chính là nhằm biểu thị theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính và các nghiệp vụ giao dịch của một doanh nghiệp”. Theo chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” thì “Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp”. Hệ thống báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình về kết quả kinh doanh để phục vụ cho nhu cầu quản lý bản thân doanh nghiệp và các đối tượng khác bên ngoài doanh nghiệp và chủ yếu là các đối tượng khác bên ngoài doanh nghiệp.
Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng trong nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường, báo cáo kế toán có thể được định nghĩa như là một hệ thống thông tin đã được xử lý bởi hệ thống kế toán nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho những người sử dụng để ra các quyết định kinh tế. Tùy theo đối tượng sử dụng thông tin kế toán mà hệ thống báo cáo kế toán được chia thành hệ thống báo cáo tài chính cung cấp cho tất cả các đối tượng sử dụng bên Trang 12 123doc ngoài doanh nghiệp và hệ thống báo cáo kế toán quản trị - chỉ cung cấp cho các đối tượng sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Đối tượng sử dụng báo cáo tài chính - Tại đoạn 9, trong báo cáo về “Khuôn khổ để soạn thảo và trình bày các báo cáo tài chính”, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) xác định: “Những người sử dụng báo cáo tài chính gồm các nhà đầu tư hiện tại, những người làm thuê, các nhà cho vay , các nhà cung cấp, các chủ nợ thương mại khác, các khách hàng, nhà nước và các cơ quan của nó và cộng đồng. Họ dùng báo cáo tài chính để đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của họ” + Các nhà đầu tư: những người cung cấp vốn và các cố vấn của họ quan tâm đến những rủi ro và những lợi tức mang lại từ sự đầu tư của họ.
+ Những người làm thuê: quan tâm đến những thông tin về sự ổn định và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đảm bảo cuộc sống của công nhân. + Các nhà cho vay: quan tâm đến những thông tin cho phép họ xác định có cho vay (hay không), tiền lãi sẽ được trả khi đến hạn hay không. + Các nhà cung cấp và các chủ nợ khác: quan tâm đến những thông tin cho phép họ xác định xem số tiền họ đang làm chủ sẽ được trả khi đến hạn hay không. + Các chủ nợ có thể quan tâm đến một doanh nghiệp qua một kỳ ngắn hơn các nhà cho vay trừ khi họ phụ thuộc vào sự liên tục của doanh nghiệp như một khách hàng thứ yếu.
+ Các khách hàng: quan tâm đến những thông tin về sự liên tục của một doanh nghiệp , đặc biệt khi họ có sự liên quan lâu dài hoặc bị phụ thuộc vào doanh nghiệp. + Nhà nước và các cơ quan nhà nước: quan tâm đến việc sử dụng tài nguyên, họ đòi hỏi thông tin để điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp, xác định chính sách thuế cũng như làm căn cứ để thống kê thu nhập của quốc gia và các thống kê tương tự. Trang 13 123doc + Cộng đồng: các doanh nghiệp ảnh hưởng đến các thành viên của cộng đồng theo nhiều cách khác nhau như sự đóng góp quan trọng của doanh nghiệp vào sự phát triển kinh tế địa phương, giải quyết thất nghiệp, môi trường… 1. Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán quản trị Khác với báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị được soạn thảo và trình bày nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp - các nhà quản lý.
Vai trò chủ yếu của nhà quản lý là ra quyết định, để thực hiện được vai trò này các nhà quản lý cần thông tin, nhu cầu thông tin có được từ nhiều nguồn, một trong những nguồn cung cấp thông tin cho các nhà quản lý là kế toán quản trị Đối với tất cả các doanh nghiệp, các nhà quản lý cần 3 thông tin sau: - Thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu hoạt động doanh nghiệp. - Thông tin phục vụ cho việc kiểm soát các hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp để chỉ đạo hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra. - Thông tin phục vụ cho việc chứng minh các quyết định đặc biệt trong quá trình hoạt động. Đối với các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, các nhà quản lý còn cần loại thông tin về giá thành sản phẩm, dịch vụ.
MỤC ĐÍCH CỦA BÁO CÁO KẾ TOÁN Mục đích của báo cáo tài chính được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) xác định là cung cấp thông tin về tình hình tài chính (chủ yếu trong bảng cân đối kế toán); kết quả hoạt động kinh doanh (Cung cấp trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) và những thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp đánh giá các hoạt động kinh doanh, đầu tư tài chính trong kỳ, giúp dự đoán khả năng tạo ra tiền và nhu cầu sử dụng tiền trong tương lai (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ). Trang 14 123doc Ở Việt Nam mục đích của báo cáo tài chính được xác định tại chuẩn mực số 21– Trình bày báo cáo tài chính tại điều 5 khoản mục quy định chung là “Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp”. Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính.
YÊU CẦU ĐỐI VỚI BÁO CÁO KẾ TOÁN 1. Yêu cầu đối với báo cáo tài chính 9 Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính: Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các yêu cầu quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” gồm: - Trung thực và hợp lý. - Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp thông tin đáng tin cậy, khi: + Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. + Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ảnh hình thức hợp pháp của chúng.
+ Trình bày khách quan không thiên vị. + Tuân thủ nguyên tắc thận trọng. + Trình bày đầy đủ mọi khía cạnh trọng yếu.