CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.1 SỰ CẦN THIẾT TRONG VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm lương, các khoản trích theo lương và thuế thu nhập cá nhân 1.1 Tiền lương và các loại tiền lương Tiền lương về cơ bản là giá trị được biểu hiện bằng tiền của sức lao động, là khoản tiền trả cho người lao động khi người lao động hoàn thành công việc theo một thỏa thuận trước đó. Như vậy, tiền lương được coi như là một yếu tố đầu vào của sản xuất, là một phần chi phí của người sử dụng lao động. Ngược lại, với người lao động, tiền lương là thù lao, là khoản tiền họ kiếm được khi bán sức lao động chân tay hoặc trí óc cho người sử dụng lao động. Như vậy tiền lương vừa có sự thống nhất vừa có sự mâu thuẫn giữa hai bên, và điều này đòi hỏi tới sự can thiệp của pháp luật.
Dựa trên định nghĩa trên, bản chất lương là giá cả của sức lao động do đó các mức lương cũng sẽ dao động khác nhau dựa trên trình độ chuyên môn và lĩnh vực của người lao động. Theo điều 90 Bộ luật lao động năm 2019, tiền lương sẽ được cấu phần từ các mức lương theo công việc hay chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Các nhân tố cấu thành nên tiền lương kết nối chặt chẽ, bổ sung cho nhau đảm bảo giá trị sức lao động tránh việc sức lao động bị đánh giá thiếu sót, đảm bảo công bằng, bù đắp lại cho người lao động tránh cho họ bị thiệt thòi. Có thể thấy tiền lương khá tương thích với khái niệm về thu nhập trong mối quan hệ lao động.
* Kỳ hạn trả lương Người lao động hưởng lương dựa trên ngày, giờ, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp dựa theo thỏa thuận hai bên nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Cột mốc trả lương sẽ được thỏa thuận trước đó và phải ấn định vào một mốc có tính chu kỳ 4 Nếu là người lao động hưởng lương làm dựa trên số lượng sản phẩm, theo khoán sẽ được trả lương theo thỏa thuận hai bên; nếu công việc kéo dài nhiều tháng thì hằng tháng người lao động sẽ được tạm ứng tiền lương tính dựa vào khối lượng sản phẩm làm trong tháng đó. Trong một vài trường hợp bất khả kháng, người sử dụng lao động đã sử dụng mọi cách, mọi biện pháp để có thể trả lương đúng hạn cho người lao động nhưng thất bại thì kỳ hạn chậm lương không đước kéo dài quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của khoản trả chậm với lãi suất bằng lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn 1 tháng tại ngân hàng mà người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động.
* Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm Người lao động làm thêm giờ sẽ có mức lương tính bằng đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: + Nếu là vào ngày thường, mức làm thêm sẽ được tính ít nhất bằng 150% số lương thực trả. + Nếu là ngày nghỉ hằng tuần thì ít nhất bằng 200%. + Vào các ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương số lương làm thêm ít nhất bằng 300%. Nếu người lao động làm ban đêm, ngoài số lương tính theo đơn giá bình thường, họ sẽ được trả thêm ít nhất là 30% số lương thực trả.
Nếu họ làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc được trả thêm như trên, người lao động lại nhận về 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban đêm của ngày làm việc bình thường (Hoặc đó là ngày nghỉ lễ, Tết) *Liên quan đến tiền lương ở Việt Nam còn có một số khái niệm khác như: *Tiền lương cơ bản: Số tiền được chính thức ghi trong các hợp đồng lao động, các quyết định về lương hay qua các thỏa thuận chính thức. Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của sức lao động và tầm vóc của công việc mà người lao động đảm đương. Trong khu vực Nhà nước Tiền lương cơ bản được xác định như sau: Tiền lương cơ bản = Tiền lương tối thiểu * Hệ số lương 5 * Tiền lương tối thiểu: Là mức lương trả cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện bình thường của xã hội. Tiền lương tối thiểu được pháp luật bảo vệ.
Tiền lương tối thiểu có những đặc điểm cơ bản sau đây: + Được xác định ứng với trình độ lao động giản đơn nhất. + Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thường. + Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết. + Tương ứng với giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình.
Tiền lương tối thiểu là cơ sở là nền tảng để xác định mức lương trả cho các loại lao động khác. Nó còn là công cụ để nhà nước quản lý và kiểm tra việc trao đổi mua bán sức lao động. Tiền lương tối thiểu còn nhằm điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế. *Vai trò của tiền lương tối thiểu: -Tiền lương tối thiểu là lưới an toàn bảo vệ người lao động trên thị trường lao động.
-Giảm thiểu cảnh đói nghèo -Xóa đi sự cạnh tranh không công bằng, tránh việc các công ty doanh nghiệp giảm thiểu đi các chi phí vô lý bằng tiền lương. -Bảo đảm sự trả công giống nhau cho những công việc tương đương (phụ nữ, nam giới, giữa các vùng khác nhau, giữa các đẳng cấp , nhóm lao động khác nhau). -Phòng ngừa sự xung đột giữa giới chủ và giới thợ làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Ngoài các vai trò trên, ở Việt nam, tiền lương tối thiểu còn được dùng làm “căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác, thực hiện chính sách BHXH và tính trợ cấp xã hội”.
Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề mức lương tối thiểu. Có ý kiến đồng thuận với việc tăng mức lương tối thiểu lên để bảo vệ quyền lợi cho các lao động non trẻ, mới vào nghề nhưng việc tăng mức lương tối thiểu lên lại khiến cho bộ phận này khó kiếm việc làm hơn đơn giản là vì các công ty không muốn phải trả lương cao cho những lao động yếu kém. Trên thực tế, hiện nay ở các doanh nghiệp tại Việt Nam đề trả lương cao hơn nhiều so với mức lương tối thiểu nên đa số đều 6 ko vi phạm luật lương tối thiểu. +Tiền lương danh nghĩa: Là số lượng tiền mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành một khối lượng công việc nhất định.
+ Tiền lương thực tế: Cùng một khối lượng tiền tệ nhưng ở những thời điểm khác nhau hay vùng địa lý khác nhau thì khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mua được cũng có thể khác nhau. Như vậy Tiền lương thực tế là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa. Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện qua công thức sau đây: Itldn Itltt = ——— Igc Itltt – Chỉ số tiền lương thực tế Itldn – Chỉ số tiền lương danh nghĩa Igc – Chỉ số giá cả Tiền lương thực tế giúp ta có thể so sánh về mức sống giữa các loại lao động ở các vùng hay quốc gia khác nhau. Tiền lương thực tế là một chỉ số về mức sống dựa trên các dạng tiêu dùng của người lao động và gia đình họ.
Có nhiều thuật ngữ được sử dụng để nói về sự trả lương cho lao động hoặc dịch vụ. Công ước 100 của ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) sử dụng thuật ngữ tiền thù lao (remuneration) để nói về tiền lương như một khoản thù lao được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền mặt hoặc dưới dạng khác do người sử dụng lao động trả trực tiếp cho người lao động và phát sinh từ sự thuê muớn người lao động. Tiền lương là phạm trù của sản xuất hàng hóa và các quan hệ lao động thuê mướn. Mối quan tâm đến vấn đề này ngày càng tăng vì: số người làm việc vì tiền lương và sống nhờ vào tiền lương ngày càng tăng.
Trước đây chúng ta coi tiền lương thuộc phạm trù phân phối, nhưng ngày nay tiền lương được coi như một khoản chi phí cho đầu tư. Chất lượng và hiệu quả của kinh doanh ngày nay còn phụ thuộc vào các khoản đầu tư có hiệu quả hay không. Ngày nay người ta thuê nhân công để thành công chứ không phải để thất bại. Đầu tư đúng vào nguồn nhân công chất lượng là một đảm bảo cho sự thành công.
7 * Những đặc trưng của tiền lương -Mức tăng của tiền lương được quyết định bởi các phương tiện sống khách quan cần thiết cho tái sản xuất sức lao động cả về số lượng và chất lượng phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội. -Tiền lương có khuynh hướng tăng lên không ngừng bởi vì bản thân giá trị sức lao động tăng lên không ngừng. Việc giảm tiền lương so với mức đã dạt được sẽ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ đến nỗi trên thực tế không được coi là một khả năng có thể xảy ra trong một thời gian dài hay trong phạm vi mà người ta có thể cảm nhận thấy được. -Nhịp độ phát triển của tiền lương phải chậm hơn so với nhịp độ phát triển kinh tế bởi quy luật phát triển tích lũy của tư bản nghiêng về phần cố định đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng.
*Chức năng tiền lương – Chức năng thước đo giá trị: Có nghĩa là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động và là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm.