phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 1.
Tổng quan về Kiểm soát nội bộ 1. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Giai đoạn trƣớc năm 1992 Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại. Nếu không có HTKSNB, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những việc thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử đụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp, tổ chức phải có một HTKSNB hữu hiệu.
Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ cuộc cách mạng công nghiệp (cuối thế kỷ XIX), với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. KSNB lúc bấy giờ được hiểu là một biện pháp để ngăn ngừa việc gian lận tiền. Năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED - Federal Reserve System). Theo công bố này, KSNB được xem là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên.
Năm 1949, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA-American Institute of Certified Public Accountants) đã công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB: “Kiểm soát nội bộ, các bộ phận cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Và định nghĩa KSNB là “…cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các chính sách của người quản lý”.(1) Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) đơn vị trực thuộc AICPA ban hành báo cáo thủ tục kiểm toán 29 (SAP - Statement Auditing Procedure) về “phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”. SAP 29 đã phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán.(2) Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 (1962) và đã làm rõ hơn về vấn đề này. Dựa trên khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý, CAP đã xây dựng chuẩn mực kiểm toán yêu cầu công ty kiểm toán nên giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán.
Những năm 1970, KSNB được đặc biệt chú ý nhằm thiết lập HTKSNB và được áp dụng trong các cuộc kiểm toán. Năm 1977, sau sự kiện Watergate với các khoản thanh toán bất hợp pháp cho Chính phủ nước ngoài, luật về chống hối lộ nước ngoài được Quốc hội Mỹ thông qua. Khái niệm về KSNB lần đầu được xuất hiện trong một văn bản pháp luật. Với nội dung nhấn mạnh rằng KSNB nhằm ngăn ngừa các khoản thanh toán bất hợp pháp ra nước ngoài.
Năm 1979, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC - Securities and Exchange Commission) đưa ra bắt buộc các công ty báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình. Yêu cầu báo cáo về KSNB của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranh luận. Một trong những tranh luận này là việc thiếu các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay vì từ KSNB về kế toán.
(1): Đại học kinh tế Tp.HCM, khoa kế toán-kiểm toán, bộ môn kiểm toán. Kiểm soát nội bộ, trang 6. (2): Đại học kinh tế Tp.HCM, khoa kế toán-kiểm toán, bộ môn kiểm toán. Kiểm soát nội bộ, trang 6.
(3): Đại học kinh tế Tp.HCM, khoa kế toán-kiểm toán, bộ môn kiểm toán. Kiểm soát nội bộ, trang 9. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay Năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo năm 1992, đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống.
Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính, mà còn được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ. Báo cáo COSO 1992 chưa thực sự hoàn thiện nhưng đó là cơ sở lý thuyết cơ bản về KSNB. Báo cáo COSO 1992 đã đưa ra năm bộ phận của KSNB: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Hàng loạt nghiên cứu về KSNB ở các lĩnh vực khác nhau được ra đời, chẳng hạn như: + Phát triển theo hƣớng quản trị: Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework), đến năm 2004 COSO ban hành hướng dẫn dựa theo nghiên cứu trên, theo đó ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận cấu thành: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
+ Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: Dựa trên nền tảng của báo cáo COSO 1992, năm 2006, COSO đã nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”. Hướng dẫn này dựa trên báo cáo COSO 1992, trình bày cách thức áp dụng KSNB phù hợp với điều kiện của công ty đại chúng có quy mô nhỏ. + Phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin: Năm 1996, Hiệp hội về Kế toán và Kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA- Information System Audit and Control Association) đã ban hành bản tiêu chuẩn “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 gọi tắt là CoBIT – Control Objectives for Information and Related Technology. Trong bản tiêu chuẩn CoBIT đã nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trường tin học, bao gồm các lĩnh vực như: hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát.
+ Phát triển theo hƣớng kiểm toán độc lập Các chuẩn mực kiểm toán (SAS-Statement on Auditing Standard) của Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng cho việc đánh giá HTKSNB, chẳng hạn như: - Chuẩn mực kiểm toán SAS 78 ban hành 1995: xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính. - Chuẩn mực kiểm toán SAS 94 ban hành 2001: ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard on Auditing) cũng sử dụng báo cáo COSO khi xem xét HTKSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính, cụ thể: - Chuẩn mực kiểm toán ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động của đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu” đã yêu cầu kiểm toán viên cần hiểu biết đầy đủ về HTKSNB tại đơn vị được kiểm toán. - Chuẩn mực kiểm toán ISA 265 “Thông báo về những khuyết điểm của KSNB” yêu cầu kiểm toán viên độc lập sau khi phát hiện những khuyết điểm của HTKSNB trong đơn vị đang kiểm toán thì cần báo cáo ngay cho những người có trách nhiệm trong đơn vị.
+ Phát triển theo hƣớng kiểm toán nội bộ Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ nêu ra các mục tiêu của KSNB bao gồm: - Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin. - Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định. - Bảo vệ tài sản. - Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động và các chương trình. + Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào những ngành cụ thể: Chẳng hạn như: Báo cáo Basel 1998 của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra công bố về phương pháp, khuôn khổ KSNB trong ngân hàng.(4) + Trong khu vực công: Trong khu vực công, KSNB cần đặc biệt quan tâm, nhất là đối với kiểm toán viên nhà nước. Năm 1992, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao gọi tắt là INTOSAI (International Organization of Supreme Audit Institutions) đã ban hành “Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ dành cho khu vực công”. Hướng dẫn này được cập nhật vào năm 2001 và được công bố vào năm 2004.
Hướng dẫn này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO.(5) Tại Hoa Kỳ, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước (GAO – Government Accountability Office) đã ban hành “Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang” vào năm 1999. Nhìn chung, các chuẩn mực về KSNB trong khu vực công hiện nay đặt trên nền tảng của báo cáo COSO 1992 với những điểm chính: xác định KSNB là một bộ phận, một quy trình không thể thiếu trong một đơn vị nhằm giúp tạo ra hiệu quả cho các hoạt động như không để thất thoát hư hỏng tài sản, bên cạnh đó báo cáo tài chính phải đáng tin cậy, các cá nhân, tổ chức phải tuân thủ pháp luật và các quy định. Cũng tương tự như báo cáo COSO 1992, chuẩn mực về KSNB trong khu vực công cũng có năm yếu tố tạo thành đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. So với báo cáo COSO 1992, các chuẩn mực KSNB trong khu vực công tập trung hơn vào các chức năng và đặc điểm của đơn vị nhà nước và các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ hướng dẫn.
(4): Basle Committee on Banking Supervision, 1998. Framework for Internal Control System in Banking Oganisations.