Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị trong các công ty dệt may tại Thái Bình" của sinh viên Tô Văn Đạt (chuyên ngành Kế toán, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Ngoại thương, thực hiện tháng 5 năm 2018 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Phương Mai) tập trung giải quyết bài toán tổ chức thông tin quản trị nội bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình tham gia các hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội xuất khẩu lớn nhưng đồng thời đặt các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài. Để tồn tại và vận hành sản xuất kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp đòi hỏi phải thiết lập hệ thống kế toán quản trị (KTQT) nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho quá trình ra quyết định.

Thái Bình là địa phương có truyền thống dệt may lâu đời với các thương hiệu xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc (tiêu biểu như Tổng công ty May 10). Mặc dù vậy, công tác kế toán tại đa số doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh chỉ tập trung thực hiện kế toán tài chính (KTTC) và kế toán thuế nhằm phục vụ nghĩa vụ pháp lý, chưa chú trọng đúng mức đến KTQT. Tình trạng này khiến các doanh nghiệp dệt may Thái Bình gặp khó khăn trong việc kiểm soát chi phí, định giá thành và suy giảm năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp lớn trong nước như Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tổng công ty Cổ phần May Nhà Bè, Công ty Cổ phần Dệt 10/10 hay Công ty Cổ phần May Sông Hồng.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KTQT tại các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về hệ thống kế toán quản trị.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống kế toán quản trị của các công ty dệt may tại Thái Bình.
  3. Đưa ra những giải pháp, đề xuất để hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại các công ty dệt may tại Thái Bình.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống kế toán quản trị trong các công ty dệt may. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các công ty dệt may điển hình tại tỉnh Thái Bình, bao gồm Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái (Vitexco), Công ty Cổ phần May xuất khẩu Đại Đồng, Công ty TNHH May Hưng Nhân, và Tổng công ty May 10. Phạm vi thời gian khảo sát dữ liệu thực tế kéo dài từ năm 2014 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các chuẩn mực và công trình nghiên cứu chuyên ngành kế toán quản trị trong và ngoài nước. Tác giả trích dẫn định nghĩa KTQT từ Viện KTQT Hoa Kỳ (A. Atkinson và cộng sự, 2001), Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC, 1998) và quy định pháp lý của Việt Nam tại Điều 10 Luật Kế toán năm 2003, Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp, cùng Luật Kế toán số 88/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Hệ thống lý thuyết được tác giả triển khai qua các nội dung trọng tâm:

  • Phân biệt KTTC và KTQT theo các tiêu thức: đối tượng sử dụng thông tin (bên ngoài so với nội bộ), đặc điểm thông tin (tuân thủ nguyên tắc, ưu tiên chính xác so với linh hoạt, ưu tiên kịp thời), thước đo (chủ yếu là giá trị so với kết hợp hiện vật, thời gian, giá trị), hệ thống báo cáo và tính pháp lệnh (Nguyễn Ngọc Quang, 2011).
  • Lý thuyết lập hệ thống dự toán: phân loại theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), mối quan hệ với mức độ hoạt động (tĩnh, linh hoạt) và nội dung kinh tế (dự toán tiêu thụ, sản xuất, nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, tiền mặt, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán dự toán). Trình tự lập dự toán được khảo sát qua hai mô hình: lập từ trên xuống và lập từ dưới lên.
  • Tổ chức kế toán theo 4 trung tâm trách nhiệm: trung tâm chi phí (chi phí định mức và chi phí tùy ý), trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư (Garrison và Noreen, 2008; Phạm Đức Dũng, 2009; Phạm Văn Dược và Trần Văn Tùng, 2011; Huỳnh Lợi, 2012). Tiêu chí đánh giá trung tâm trách nhiệm dựa trên hiệu quả (tỷ lệ đầu ra trên đầu vào) và hiệu suất (kết quả thực tế so với mục tiêu).
  • Thông tin KTQT phục vụ ra quyết định: các quyết định ngắn hạn (chấp nhận đơn hàng đặc biệt, tiếp tục hay ngừng kinh doanh sản phẩm/bộ phận, tự sản xuất hay mua ngoài, bán ngay hay tiếp tục chế biến) dựa trên thông tin thích hợp và chi phí chênh lệch; các quyết định đầu tư dài hạn dựa trên hiện giá thuần (NPV), tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR).
  • Các xu thế KTQT hiện đại trên thế giới: phân tích lợi nhuận theo khách hàng và kênh phân phối dựa trên hoạt động (ABC), tích hợp thẻ điểm cân bằng (BSC), quản trị tinh gọn (Lean), chuyển dịch chức năng sang hoạch định và dự báo (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Mạnh Thiều, 2016).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu tại bàn (desk research) và khảo sát thực địa. Nghiên cứu tại bàn thu thập dữ liệu thứ cấp từ giáo trình, luận án, bài báo chuyên ngành, số liệu của Tổng cục Thống kê và các báo cáo chuyên môn. Khảo sát thực địa sử dụng phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn chuyên gia, tiếp cận các hồ sơ dự toán và báo cáo quản trị nội bộ tại các công ty may Việt Thái, Hưng Nhân, Đại Đồng, May 10. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận về kế toán quản trị, khẳng định KTQT là công cụ cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính phục vụ bốn chức năng quản trị: lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định kinh tế. Tác giả phân tích lịch sử phát triển KTQT tại Việt Nam qua hai mốc: trước năm 1995 (chủ yếu báo cáo phục vụ cơ quan chủ quản cấp trên) và sau năm 1995 (kinh tế tư nhân phát triển, nhu cầu dự toán và kiểm soát chi phí xuất hiện). Tác giả dẫn chứng nhận định của PGS. Nghiêm Văn Lợi (2015) chỉ ra rằng hệ thống KTQT yếu kém là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự đổ vỡ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn như Vinashin và Vinalines trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

Chương này cũng làm rõ sự khác biệt giữa hai phân hệ kế toán thông qua bảng đối chiếu các tiêu thức:

Tiêu thức so sánh Kế toán tài chính (KTTC) Kế toán quản trị (KTQT)
Đối tượng sử dụng Mọi đối tượng, chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp Nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp
Đặc điểm thông tin Phản ánh quá khứ, ưu tiên tính chính xác, tuân thủ chuẩn mực Phản ánh hiện tại và tương lai, ưu tiên tính kịp thời, linh hoạt
Thước đo thông tin Thước đo giá trị là cơ bản Đa dạng: giá trị, hiện vật, thời gian, cơ cấu, chất lượng
Hệ thống báo cáo Mẫu biểu thống nhất toàn doanh nghiệp; kỳ báo cáo tháng, quý, năm Mẫu biểu phục vụ quản trị từng bộ phận; kỳ báo cáo ngày, tuần, tháng
Tính pháp lệnh Bắt buộc tuân thủ pháp lệnh kế toán Không mang tính pháp lệnh, linh hoạt theo yêu cầu quản lý

Chương 2: Thực trạng hệ thống kế toán quản trị trong các công ty dệt may tại Thái Bình

Chương 2 mô tả bối cảnh ngành và phản ánh chi tiết thực trạng ứng dụng KTQT tại địa phương. Về bối cảnh chung, tác giả trích dẫn số liệu so sánh ngành dệt may với cả nước (Lê Hồng Thuận, 2017) cho thấy quy mô ngành đạt 2.485 doanh nghiệp (chiếm 1,98% cả nước), 243.856 nghìn lao động (chiếm 12,29%), kim ngạch xuất khẩu 26.580 triệu USD (15,15%), tổng doanh thu thuần 204.042 tỷ đồng (3,20%), lợi nhuận trước thuế 5.695 tỷ đồng (1,86%) và vốn sản xuất kinh doanh 194.247 tỷ đồng (1,74%). Xuất khẩu toàn ngành năm 2016 đạt 26,7 tỷ USD nhưng chi phí nhập khẩu nguyên phụ liệu chiếm 16 tỷ USD; năm 2017 xuất khẩu đạt 31 tỷ USD (tăng 10,23%), trong đó thị trường Hoa Kỳ chiếm 48,3% (12,53 tỷ USD).

Tại Thái Bình, năm 2017 có 304 doanh nghiệp dệt may (may: 162 đơn vị chiếm 53%; dệt, kéo sợi: 103 đơn vị chiếm 34%; thêu: 30 đơn vị chiếm 10%; giày da: 9 đơn vị chiếm 3%), giải quyết việc làm cho hơn 74.200 lao động (chiếm 44% lao động toàn ngành công nghiệp tỉnh). Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 1,057 tỷ USD (chiếm 75% kim ngạch xuất khẩu tỉnh), kim ngạch nhập khẩu đạt 822,147 triệu USD. Các doanh nghiệp tiêu biểu gồm Maxport (186,7 triệu USD), TAV (96,4 triệu USD), Nien Hsing VN (74,6 triệu USD), Poongshin Vina (32,6 triệu USD).

Về thực trạng KTQT, tác giả chỉ ra các phát hiện cụ thể:

  • Công tác lập dự toán: Các công ty quy mô lớn và vừa (Việt Thái, Hưng Nhân, Đại Đồng, May 10) đều thực hiện lập dự toán; doanh nghiệp nhỏ (như Công ty TNHH May Đạt Đăng) bỏ qua khâu dự toán do trình độ kế toán hạn chế. Phương pháp lập dự toán tại các công ty mang tính áp đặt từ trên xuống (Hội đồng quản trị và Ban giám đốc áp chỉ tiêu, Phòng Kế toán lập, chuyển xuống phân xưởng). Tại Công ty CP May xuất khẩu Việt Thái, tiến độ lập dự toán chia làm ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị (15/11 đến 30/11), giai đoạn soạn thảo (01/12 đến 26/12), và giai đoạn theo dõi (so sánh thực hiện hàng tháng, điều chỉnh ngân sách định kỳ 6 tháng một lần). Phòng Kế toán chịu trách nhiệm chính về dự toán nhưng bị quá tải do phải hoàn thành quyết toán KTTC cuối năm.
  • Hệ thống bảng biểu dự toán tại Công ty TNHH May Hưng Nhân (sản phẩm áo sơ mi năm 2014):
    • Dự toán tiêu thụ: khối lượng cả năm 18.000 sản phẩm, đơn giá bán 150 nghìn đồng/sản phẩm, tổng doanh thu kế hoạch 2.700.000 nghìn đồng.
    • Dự toán sản xuất: nhu cầu tiêu thụ 18.000 sản phẩm, tồn kho cuối kỳ dự kiến 3.700 sản phẩm, tổng nhu cầu 21.700 sản phẩm, trừ tồn kho đầu kỳ 2.700 sản phẩm, khối lượng cần sản xuất trong kỳ là 18.000 sản phẩm.
    • Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT): định mức 1 áo sơ mi gồm vải 1,2 mét (đơn giá 37,5 nghìn đồng/m), cúc 5 chiếc (đơn giá 0,4 nghìn đồng/chiếc), chỉ 0,1 gam (đơn giá 0,2 nghìn đồng/g). Tổng chi phí mua NVLTT dự toán là 862.300 nghìn đồng.
    • Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: định mức thời gian sản xuất 1 áo sơ mi là 1,5 giờ, định mức đơn giá 18 nghìn đồng/giờ công; tổng nhu cầu lao động 27.500 giờ, tổng chi phí nhân công trực tiếp dự toán là 494.000 nghìn đồng.
    • Dự toán chi phí sản xuất chung: biến phí sản xuất chung 82.500 nghìn đồng (đơn giá 3 nghìn đồng/giờ), định phí sản xuất chung 268.500 nghìn đồng; tổng chi phí sản xuất chung phân bổ 350.000 nghìn đồng (trong đó khấu hao tài sản cố định 102.500 nghìn đồng, chi bằng tiền 247.000 nghìn đồng).
    • Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (QLDN): biến phí 54.000 nghìn đồng (đơn giá biến phí 3 nghìn đồng/sản phẩm), định phí 270.000 nghìn đồng, tổng chi phí ước tính là 324.000 nghìn đồng.
  • Tổ chức trung tâm trách nhiệm: Khảo sát tại Công ty CP May xuất khẩu Việt Thái ghi nhận mô hình gồm: Trung tâm chi phí (Khối sản xuất, Khối hành chính), Trung tâm doanh thu (Khối kinh doanh), Trung tâm lợi nhuận (Ban lãnh đạo, Giám đốc), Trung tâm đầu tư (Ban lãnh đạo, Hội đồng quản trị). Tồn tại lớn nhất là sự chồng chéo chức năng: Phòng Kinh doanh chịu trách nhiệm doanh thu nhưng lại kiêm nhiệm xây dựng định mức chi phí sản xuất và theo dõi mua nguyên phụ liệu; thành viên HĐQT kiêm nhiệm Phó Tổng Giám đốc; trung tâm doanh thu chỉ gồm nhân viên bán hàng riêng lẻ mà chưa có Giám đốc kinh doanh chuyên trách giám sát.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị trong các công ty dệt may tại Thái Bình

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ các tồn tại đã nhận diện ở Chương 2, tập trung vào ba nhóm nội dung chính:

  • Hoàn thiện hệ thống dự toán: Doanh nghiệp dệt may cần chuyển từ phương pháp lập dự toán áp đặt từ trên xuống sang quy trình phối hợp kết hợp từ dưới lên để tận dụng kinh nghiệm của các cấp cơ sở và tăng tính khả thi của định mức. Thiết lập hệ thống dự toán linh hoạt thay vì chỉ dùng dự toán tĩnh; hoàn thiện đầy đủ hệ thống dự toán tài chính bao gồm dự toán tiền mặt, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh và dự toán bảng cân đối kế toán. Cần tách biệt nhân sự phụ trách KTQT với nhân sự KTTC để tránh tình trạng quá tải vào cuối niên độ.
  • Hoàn thiện kế toán trách nhiệm: Phân định rõ ràng ranh giới quyền hạn và trách nhiệm giữa các trung tâm. Bãi bỏ sự kiêm nhiệm chồng chéo, giao quyền kiểm soát định mức chi phí cho bộ phận kỹ thuật - sản xuất thay vì để Phòng Kinh doanh nắm giữ. Thiết lập hệ thống báo cáo thành quả định kỳ riêng biệt cho từng trung tâm trách nhiệm, sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù hợp như số dư đảm phí bộ phận, ROI, RI và EVA.
  • Nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin KTQT cho quyết định quản trị: Tổ chức phân loại chi phí thành biến phí và định phí để thiết lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dưới dạng số dư đảm phí; ứng dụng mô hình phân tích mối quan hệ Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận (CVP) để xác định điểm hòa vốn; cung cấp dữ liệu chi phí chênh lệch phục vụ việc lựa chọn đơn hàng may gia công ngắn hạn và áp dụng các tiêu chuẩn chiết khấu dòng tiền (NPV, IRR) khi quyết định đầu tư đổi mới công nghệ máy may, máy dệt.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp và phản ánh số liệu thực tế về cơ cấu ngành dệt may Thái Bình, làm rõ tỷ trọng 53% doanh nghiệp may và vị thế đóng góp 44% lao động công nghiệp toàn tỉnh. Tác giả trích xuất và hệ thống hóa thành công dữ liệu dự toán thực tế tại Công ty TNHH May Hưng Nhân và mô hình phân cấp quản lý tại Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái.

Nhóm chỉ tiêu dự toán áo sơ mi năm 2014 (May Hưng Nhân) Số lượng / Giá trị kế hoạch
Sản lượng tiêu thụ kế hoạch 18.000 sản phẩm
Đơn giá bán dự toán 150 nghìn đồng/sản phẩm
Doanh thu bán hàng dự toán 2.700.000 nghìn đồng
Sản lượng sản xuất kế hoạch 18.000 sản phẩm
Định mức vải cho 1 áo sơ mi 1,2 mét (đơn giá 37,5 nghìn đồng/m)
Định mức cúc cho 1 áo sơ mi 5 chiếc (đơn giá 0,4 nghìn đồng/chiếc)
Định mức chỉ cho 1 áo sơ mi 0,1 gam (đơn giá 0,2 nghìn đồng/g)
Tổng chi phí mua nguyên vật liệu trực tiếp 862.300 nghìn đồng
Định mức thời gian lao động trực tiếp 1,5 giờ/sản phẩm
Đơn giá nhân công trực tiếp 18 nghìn đồng/giờ công
Tổng chi phí nhân công trực tiếp 494.000 nghìn đồng
Tổng chi phí sản xuất chung phân bổ 350.000 nghìn đồng
Tổng chi phí bán hàng và QLDN ước tính 324.000 nghìn đồng

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc chỉ rõ nguyên nhân gốc rễ khiến KTQT chưa phát huy hiệu quả tại các doanh nghiệp may mặc địa phương: sự lẫn lộn giữa KTTC và KTQT, quy trình lập dự toán một chiều từ trên xuống, và sự chồng chéo quyền hạn tại các trung tâm trách nhiệm. Các đề xuất hoàn thiện dự toán và phân tách trung tâm trách nhiệm bám sát đặc thù sản xuất gia công may mặc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát chuyên sâu tại một số công ty may xuất khẩu tiêu biểu (Việt Thái, Hưng Nhân, Đại Đồng, May 10), chưa thực hiện khảo sát diện rộng toàn bộ 304 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đặc biệt là nhóm làng nghề dệt vải, dệt khăn thủ công. Số liệu phân tích dự toán chi tiết tập trung vào năm 2014 và chuỗi dữ liệu kinh doanh giai đoạn 2014 - 2017.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá tác động khi triển khai đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực thi Luật Kế toán năm 2015, nghiên cứu cơ chế kiểm soát chi phí xử lý chất thải môi trường phát sinh từ các công đoạn dệt nhuộm, và ứng dụng hệ thống phần mềm hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) nhằm tự động hóa việc kết nối dữ liệu giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Quản trị kinh doanh khi nghiên cứu đề tài tổ chức KTQT trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

Các nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:

  • Mẫu biểu và phương pháp tính toán dự toán sản xuất, dự toán định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tại Công ty TNHH May Hưng Nhân.
  • Bảng tiến độ 3 giai đoạn lập dự toán công việc tại Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái.
  • Khung lý thuyết phân loại trung tâm trách nhiệm và các tiêu thức phân biệt KTTC - KTQT phục vụ việc thiết kế bộ máy kế toán nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu số lượng doanh nghiệp trong ngành dệt may tại Thái Bình năm 2017 được phân bố như thế nào?
Năm 2017, toàn tỉnh Thái Bình có 304 doanh nghiệp dệt may. Cơ cấu phân chia gồm: ngành may có 162 doanh nghiệp (chiếm 53%), ngành dệt và kéo sợi có 103 doanh nghiệp (chiếm 34%), ngành thêu có 30 doanh nghiệp (chiếm 10%), và ngành giày da có 9 doanh nghiệp (chiếm 3%).

2. Quy trình lập dự toán tại Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái gồm những giai đoạn nào và thời gian thực hiện ra sao?
Quy trình lập dự toán tại Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái gồm ba giai đoạn:

  • Giai đoạn chuẩn bị (15 ngày, từ 15/11 đến 30/11): Ban giám đốc thiết lập mục tiêu kinh doanh năm sau dựa trên kết quả 10 tháng đầu năm.
  • Giai đoạn soạn thảo (từ 01/12 đến 26/12): Phòng Kinh doanh lập dự toán tiêu thụ (01/12 - 10/12); các phòng ban phối hợp lập dự toán sản xuất, giá thành, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí QLDN (11/12 - 26/12).
  • Giai đoạn theo dõi: Phòng Kế toán kiểm soát thực hiện hàng tháng, định kỳ 6 tháng Ban giám đốc xem xét điều chỉnh ngân sách một lần.

3. Định mức kinh tế - kỹ thuật sản xuất 1 áo sơ mi tại Công ty TNHH May Hưng Nhân năm 2014 được quy định với các thông số nào?
Theo bảng dự toán năm 2014 của công ty, định mức sản xuất 1 chiếc áo sơ mi bao gồm:

  • Vải: 1,2 mét (đơn giá định mức 37,5 nghìn đồng/m).
  • Cúc: 5 chiếc (đơn giá định mức 0,4 nghìn đồng/chiếc).
  • Chỉ: 0,1 gam (đơn giá định mức 0,2 nghìn đồng/g).
  • Thời gian lao động trực tiếp: 1,5 giờ công (đơn giá tiền công định mức 18 nghìn đồng/giờ).
  • Biến phí sản xuất chung: 3 nghìn đồng/sản phẩm; biến phí bán hàng và QLDN: 3 nghìn đồng/sản phẩm.

4. Bất cập chủ yếu trong phân cấp trung tâm trách nhiệm tại Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái là gì?
Bất cập lớn nhất là sự phân quyền bị chồng chéo giữa các bộ phận. Phòng Kinh doanh là trung tâm doanh thu nhưng lại kiêm nhiệm việc xây dựng định mức chi phí sản xuất may mặc cho các xí nghiệp, đồng thời trực tiếp theo dõi chi phí thu mua nguyên phụ liệu. Ngoài ra, việc thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức danh Phó Tổng Giám đốc khiến cơ chế đánh giá thành quả giữa các cấp quản lý thiếu tính độc lập và khách quan.

5. Cơ sở pháp lý về kế toán quản trị tại Việt Nam được tác giả viện dẫn gồm các văn bản nào?
Tác giả viện dẫn các văn bản pháp lý chính: Luật Kế toán năm 2003 (chính thức công nhận thuật ngữ KTQT tại Điều 10), Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp, và Luật Kế toán năm 2015 (số 88/2015/QH13) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Tô Văn Đạt đã phản ánh hệ thống cơ sở lý thuyết về kế toán quản trị và phân tích thực trạng lập dự toán cũng như phân cấp trách nhiệm tại các công ty may mặc tỉnh Thái Bình giai đoạn 2014 - 2017. Thông qua việc phân tích số liệu thực tế tại Công ty TNHH May Hưng Nhân và Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái, công trình đã chỉ rõ các điểm nghẽn về phương pháp lập dự toán một chiều và tình trạng chồng chéo chức năng quản lý chi phí. Các giải pháp được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống dự toán tài chính, tổ chức lại trung tâm trách nhiệm và khai thác dữ liệu số dư đảm phí phục vụ quyết định điều hành, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác quản trị tài chính doanh nghiệp sản xuất dệt may.