Chương 1: Giới thiệu chung về luận văn Chương 2: Cơ sở lý luận về Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập Chương 3: Thực trạng về tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung cấp và Cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Bình Phước Chương 4 : Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung cấp và Cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Bình Phước Chương 5: Kiến nghị và kết luận 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 2. Một số vấn đề chung về kế toán và tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị kế toán công lập 2. Khái niệm về kế toán và tổ chức công tác kế toán 2. Khái niệm về Kế toán Theo Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA), 1941: Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp một cách có ý nghĩa và dưới hình thức tiền tệ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các sự kiện liên quan đến tình hình tài chính và giải thích kết quả của sự ghi chép này.
Theo Điều 4, Luật kế toán số 03/2003/QH11 của Quốc hội: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Ngày nay, trên cơ sở của sự phát triển và thực tiễn, kế toán được lý giải và vận dụng như là một công cụ kiểm tra và quản lý, đồng thời là một môn khoa học về ứng dụng trong đời sống kinh tế. Khái niệm về Tổ chức công tác kế toán Tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) là việc tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán trên nền tảng pháp lý về kế toán được quy định, kết hợp với các phương tiện, kỹ thuật cũng như nguồn lực của bộ máy kế toán để thu thập, đo lường, ghi nhận, xử lý, kiểm tra và tổng hợp thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị kế toán nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên trong lẫn bên ngoài đơn vị kế toán. TCCTKT một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin để thực hiện tốt mục tiêu quản trị đơn vị nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Yêu cầu của tổ chức công tác kế toán Để tổ chức công tác kế toán cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Đảm bảo thu nhận và hệ thống hóa thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị nhằm cung cấp thông tin kinh tế đánh tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế tài chính của nhà nước và quản trị kinh doanh của danh nghiệp. - Phù hợp với quy mô và đặc điểm của tổ chức hoạt động của đơn vị. - Phù hợp với trình độ khả năng của đội ngũ cán bộ kinh tế, và trình độ trang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, ghi chép của đơn vị. - Phù hợp với chế độ kế toán hiện hành.
Nội dung tổ chức công tác kế toán Nội dung TCCTKT gồm các vấn đề cơ bản sau: + Tổ chức chế độ kế toán: bao gồm tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, công tác hạch toán ban đầu, cách luân chuyển và xử lý chứng từ một cách khoa học và hợp lý; tổ chức hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và báo cáo kế toán. + Tổ chức bộ máy kế toán khoa học, phù hợp với đặc điểm của đơn vị, đảm bảo phát huy vai trò của kế toán trưởng. + Tổ chức kiểm tra kế toán bao gồm kiểm tra việc tính toán, ghi chép, sổ sách kế toán, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán. + Tổ chức trang bị, phương tiện, thiết bị tính toán, thông tin, bảo quản số liệu, tài liệu và chỗ làm việc kế toán một cách khoa học và hiệu quả.
Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp công lập 2. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính thì đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp) là đơn vị "do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và Dạy nghề; sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xă hội; sự nghiệp Văn hoá - Thông tin (bao gồm cả đơn vị 9 phát thanh truyền hìnhh ở địa phương), sự nghiệp Thể dục - Thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác". Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào chức năng hoạt động có thể phân biệt ĐVHCSN thành các nhóm sau: - Các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương như Bộ, Cơ quan ngang Bộ, UBND Tỉnh,. - Các đơn vị sự nghiệp kinh tế, giáo dục, y tế, thể dục thể thao như bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu,.
- Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp,. - Cơ quan an ninh, quốc phòng Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính Phủ, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau: - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động); - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động). Như vậy, trường Cao đẳng, TCCN công lập là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động do có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên (so sánh giữa tổng số nguồn thu sự nghiệp với tổng số chi hoạt động thường xuyên) từ trên 10% đến dưới 100%. Các trường này do Nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa, thiết bị dạy học…) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc 10 các khoản đóng góp phi vụ lợi để tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục.
Nội dung tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập Để tổ chức công tác kế toán phù hợp với đơn vị sự nghiệp công lập cần phải căn cứ vào cấp dự toán, quy mô và đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý và trình độ chuyên môn, tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị sự nghiệp công lập và đặc biệt là phải tuân thủ các quy định pháp luật về kế toán áp dụng cho đơn vị HCSN. Tổ chức vận dụng chế độ kế toán 2. Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ kế toán Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành. Đây là nguồn thông tin ban đầu, được xem như nguồn nguyên liệu mà kế toán sử dụng để qua đó tạo lập nên những thông tin có tính tổng hợp và hữu ích để phục vụ cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau.
Tổ chức chứng từ kế toán là quá trình vận dụng chế độ chứng từ vào đặc thù riêng của đơn vị kế toán. Quá trình gồm việc xác định chủng loại, số lượng, nội dung kết cấu và qui chế quản lý sử dụng chứng từ. Tiếp theo là việc thiết lập các bước thủ tục cần thiết để hình thành bộ chứng từ cho từng loại nghiệp vụ phát sinh gắn với từng đối tượng kế toán nhằm thiết lập thông tin ban đầu hợp pháp, hợp lệ phục vụ cho việc quản lý, tác nghiệp hàng ngày và ghi sổ kế toán. Tại Mục I Phần thứ nhất Quyết định 19/2006/QĐ-BTC, tổ chức lập và xử lý chứng từ kế toán được quy định rõ bao gồm: lập chứng từ, kiểm tra chứng từ, hoàn chỉnh chứng từ, luân chuyển chứng từ, lưu trữ và bảo quản chứng từ.
Bộ Tài chính quy định cụ thể về chứng từ kế toán và hệ thống chứng từ kế toán cho từng lĩnh vực hoạt động. Đối với các ĐVHCSN, hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán được quy định tại Điều 2 Mục I Phần thứ nhất Quyết định 19/2006/QĐ-BTC, bao gồm 4 chỉ tiêu: - Chỉ tiêu lao động tiền lương; 11 - Chỉ tiêu vật tư; - Chỉ tiêu tiền tệ; - Chỉ tiêu TSCĐ Ngoài ra, chứng từ kế toán sử dụng trong các đơn vị HCSN còn có thể là chứng từ điện tử như các loại thẻ thanh toán các loại băng từ điện tử và các chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản pháp luật khác. Chứng từ kế toán được lập ở nhiều bộ phận khác nhau trong đơn vị kế toán kể cả bên ngoài đơn vị kế toán nên việc xác lập quy trình luân chuyển chứng từ cho các loại chứng từ khác nhau nhằm đảm bảo chứng từ về đến phòng kế toán trong thời hạn ngắn nhất có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tính kịp thời cho việc kiểm tra, xử lý và cung cấp thông tin. Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán Tổ chức hệ thống sổ kế toán tổng hợp và chi tiết để xử lý các thông tin từ các chứng từ kế toán nhằm phục vụ cho việc lập các báo cáo kế toán cũng như phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn cũng như các nghiệp vụ thu, chi, thanh toán ở ĐVHCSN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của kế toán.