Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý và thực hiện an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế. Tại Việt Nam, sau 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 (giai đoạn 2007 - 2014), mạng lưới trợ giúp pháp lý nhà nước đã kiện toàn với tổng số 1.313 công chức, viên chức và người lao động, trong đó có 572 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Cùng với đó, hệ thống đã huy động được trên 10.700 cộng tác viên tham gia hoạt động hỗ trợ pháp luật trên toàn quốc. Tuy nhiên, sự phân bổ nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng về mặt địa lý: tính đến ngày 31/3/2015, hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tập trung lần lượt 2.472 và 4.137 luật sư, trong khi các tỉnh miền núi khó khăn như Lai Châu chỉ có 2 luật sư, còn Bắc Kạn, Hà Giang, Kon Tum mỗi tỉnh chỉ có 6 luật sư hành nghề.

Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách về sự bất cập của các quy định pháp luật điều chỉnh đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng thể chế và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển lập pháp từ năm 1945 đến năm 2016, tập trung vào khung pháp lý hiện hành và thực tiễn vận hành của hệ thống trợ giúp pháp lý tại 63 tỉnh, thành phố. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ vụ việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý lên trên 80%, bảo đảm tối đa quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Tiếp cận theo lý thuyết dịch vụ công và an sinh xã hội pháp lý, trợ giúp pháp lý được xác định là trách nhiệm xã hội của Nhà nước nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng yếu thế theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung phân tích so sánh các mô hình trợ giúp pháp lý trên thế giới gồm: mô hình từ thiện (Pháp, Bỉ), mô hình luật sư công hưởng lương ngân sách (Mỹ, bang Quebec của Canada) và mô hình hỗn hợp kết hợp công - tư (Hà Lan với 20 văn phòng chính quản lý 57 văn phòng độc lập, Philippines với 991 luật sư công thuộc Cục Trợ giúp pháp lý).

Khung khái niệm của đề tài tập trung làm rõ 4 nội hàm cốt lõi:

  1. Trợ giúp pháp lý: Dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước dành cho người thuộc diện thụ hưởng theo quy định pháp luật.
  2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý: Chủ thể trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý gồm Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật và Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
  3. Chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý: Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bổ nhiệm, hành nghề, thực hiện quyền và nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí.
  4. Trợ giúp viên pháp lý: Viên chức nhà nước làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ chuyên trách đại diện, bào chữa và tư vấn pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 32 văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý và luật sư, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2007 - 2014 của Bộ Tư pháp, cùng dữ liệu thống kê quản lý luật sư đến ngày 31/3/2015 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Về quy mô khảo sát, nghiên cứu thu thập dữ liệu tổng thể từ 63 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trên toàn quốc và tiến hành chọn mẫu phân tầng có chủ đích đối với 2 trung tâm đô thị lớn cùng 5 tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Giang, Hà Nam, Kon Tum). Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng nhằm làm nổi bật sự phân hóa sâu sắc về mật độ nhân lực pháp lý, từ đó đánh giá chính xác tính tương thích của khung chính sách đối với từng vùng miền.

Phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phương pháp so sánh luật học đối chiếu với 6 quốc gia tiêu biểu được lựa chọn làm công cụ chủ đạo. Việc kết hợp thống kê mô tả định lượng và tổng hợp định tính giúp xác định chính xác các điểm nghẽn thể chế trong việc chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp và kiểm soát chất lượng dịch vụ pháp lý công. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, xử lý số liệu và tổng hợp luận chứng được triển khai hoàn tất trong giai đoạn 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý có sự phát triển nhanh về số lượng nhưng hiệu quả tham gia tố tụng thực tế chưa tương xứng. Mặc dù cả nước đã xây dựng được lực lượng 572 Trợ giúp viên pháp lý, song tỷ lệ Trợ giúp viên trực tiếp tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa mới chỉ chiếm khoảng 15% đến 20% tổng số vụ việc được thụ lý, phần lớn hoạt động vẫn tập trung vào các hình thức tư vấn pháp luật đơn giản tại cơ sở.

Thứ hai, mạng lưới cộng tác viên trợ giúp pháp lý bộc lộ sự mất cân đối lớn về cơ cấu chuyên môn. Trong tổng số hơn 10.700 cộng tác viên trên cả nước, lực lượng có chuyên môn sâu chỉ có 1.136 luật sư (chiếm tỷ lệ 10,6%) và 174 tư vấn viên pháp luật (chiếm khoảng 1,6%), phần còn lại là cộng tác viên tại cơ sở. Mức chi trả thù lao vụ việc theo quy định còn rất thấp, khiến tỷ lệ cộng tác viên là luật sư thực tế tham gia nhận vụ việc trợ giúp chỉ đạt dưới 30%.

Thứ ba, khoảng cách phân bổ lực lượng luật sư giữa các vùng kinh tế là rào cản lớn nhất đối với việc tiếp cận công lý. Thống kê số liệu hành nghề cho thấy Thành phố Hồ Chí Minh (4.137 luật sư) và Hà Nội (2.472 luật sư) chiếm xấp xỉ 70% tổng số luật sư toàn quốc. Ngược lại, tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nguồn nhân lực luật sư vô cùng khan hiếm, đơn cử như Lai Châu chỉ có 2 luật sư (chênh lệch hơn 2.000 lần so với Thành phố Hồ Chí Minh), các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Hà Nam, Kon Tum chỉ có 6 luật sư trên mỗi địa bàn tỉnh.

Thứ tư, cơ chế thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư theo Luật Luật sư còn mang tính hình thức. Do thiếu chế tài kiểm tra và xử phạt cụ thể, có hơn 60% luật sư chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trợ giúp pháp lý miễn phí hàng năm cho người nghèo theo quy định của pháp luật về luật sư.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012) và Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật. Vị thế pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự bình đẳng với luật sư khi tham gia tố tụng, đồng thời quy trình bổ nhiệm Trợ giúp viên chưa yêu cầu bắt buộc qua đào tạo nghề luật sư tập trung, dẫn đến kỹ năng tranh tụng tại Tòa án của một bộ phận viên chức còn hạn chế.

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân bổ nguồn nhân lực có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch số lượng luật sư giữa đô thị lớn và các tỉnh miền núi khó khăn. Đồng thời, cấu trúc đội ngũ cộng tác viên có thể được biểu diễn qua bảng ma trận phân loại trình độ chuyên môn, qua đó phản ánh rõ nét sự thiếu hụt nghiêm trọng của nhóm chuyên gia pháp lý chuyên sâu trong mạng lưới trợ giúp pháp lý hiện hành.

Khi đối chiếu với mô hình hỗn hợp tại Hà Lan hay mô hình luật sư công tại Philippines (với 991 luật sư công được trả lương cố định tương đương thẩm phán), có thể thấy việc Việt Nam duy trì cơ chế cộng tác viên kiêm nhiệm bán thời gian với mức bồi dưỡng thấp đã làm giảm sút động lực tham gia của các chuyên gia pháp luật có tay nghề cao. Do đó, việc tái cơ cấu và chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên nghiệp hóa là yêu cầu tất yếu khách quan.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và nhất thể hóa tiêu chuẩn chức danh Trợ giúp viên pháp lý tương đương tiêu chuẩn luật sư. Đề xuất sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý theo hướng quy định điều kiện bắt buộc để được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý là phải có chứng chỉ tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp. Mục tiêu đến năm 2020 đạt 100% Trợ giúp viên pháp lý có kỹ năng tranh tụng chuyên sâu để đảm nhận các vụ việc tham gia tố tụng phức tạp. Cơ quan chủ trì thực hiện là Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ.

Thứ hai, thiết lập chế tài nghiêm ngặt và cơ chế kiểm soát nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư. Đề xuất ban hành quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư các tỉnh, quy định cụ thể định mức tối thiểu mỗi luật sư phải thực hiện ít nhất 2 vụ việc tham gia tố tụng hoặc 10 giờ tư vấn pháp luật miễn phí trong 1 năm. Kết quả này là điều kiện bắt buộc để đánh giá thi đua và cấp đổi thẻ luật sư hàng năm, phấn đấu nâng tỷ lệ luật sư hoàn thành nghĩa vụ lên trên 85% trong giai đoạn 2016 - 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thứ ba, điều chỉnh định mức chi trả thù lao và kinh phí bồi dưỡng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý. Đề xuất tăng mức chi trả thù lao vụ việc tham gia tố tụng cho luật sư và cộng tác viên lên từ 2 đến 3 lần so với quy định tại Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTP-BTC, nhằm bù đắp chi phí thực tế và khuyến khích các luật sư giỏi nhận vụ việc tại địa bàn khó khăn. Cơ quan thực hiện là Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tư pháp hoàn thành trong năm 2017.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa và huy động các tổ chức hành nghề luật sư tham gia trợ giúp pháp lý thông qua cơ chế đặt hàng dịch vụ công. Đề xuất Nhà nước ký hợp đồng dịch vụ trợ giúp pháp lý trực tiếp với các văn phòng luật sư, công ty luật tại 62 huyện nghèo trên cả nước, đảm bảo người nghèo tại các vùng sâu, vùng xa có quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý của luật sư chất lượng cao trước năm 2018. Đơn vị triển khai là Cục Trợ giúp pháp lý và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tại 63 tỉnh, thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước về tư pháp: Ban soạn thảo Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, Cục Trợ giúp pháp lý và Vụ Bổ trợ Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp có thể sử dụng các luận cứ khoa học để hoàn thiện dự thảo luật, thiết lập các tiêu chí chuẩn hóa chức danh và phân bổ ngân sách tư pháp hiệu quả cho giai đoạn 2016 - 2020.
  2. Các tổ chức hành nghề luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam: Ban Chủ nhiệm các Đoàn Luật sư tại 63 tỉnh, thành phố có thể tham khảo mô hình đánh giá và cơ chế phân bổ vụ việc để quản lý, giám sát nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của hơn 10.000 luật sư thành viên.
  3. Lãnh đạo và viên chức Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước: Các giám đốc trung tâm và đội ngũ 572 Trợ giúp viên pháp lý có thể ứng dụng các giải pháp nâng cao kỹ năng tố tụng, quản lý hồ sơ vụ việc và tối ưu hóa quy trình phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật: Các cơ sở đào tạo luật học có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuyên khảo về quyền tiếp cận công lý, lý luận nhà nước và pháp luật, cùng các mô hình bổ trợ tư pháp quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt Nam bao gồm những chủ thể nào? Theo quy định pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm 4 nhóm: Trợ giúp viên pháp lý (572 viên chức nhà nước chuyên trách), Luật sư hành nghề, Tư vấn viên pháp luật làm việc tại các trung tâm tư vấn pháp luật, và mạng lưới trên 10.700 Cộng tác viên trợ giúp pháp lý đã ký hợp đồng cộng tác với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.

  2. Vì sao luận văn đề xuất nhất thể hóa tiêu chuẩn giữa Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư? Việc nhất thể hóa xuất phát từ yêu cầu bảo đảm chất lượng tranh tụng tại Tòa án. Hiện nay, 100% Trợ giúp viên pháp lý đều có bằng cử nhân luật nhưng cần bắt buộc trải qua khóa đào tạo nghề 12 tháng tại Học viện Tư pháp như luật sư để bảo đảm tính chuyên nghiệp và vị thế bình đẳng trong tranh tụng bảo vệ quyền lợi cho người nghèo.

  3. Thực trạng mất cân đối nhân lực trợ giúp pháp lý tại các địa phương diễn biến ra sao? Sự phân bổ nhân lực pháp lý có sự phân hóa sâu sắc. Trong khi Thành phố Hồ Chí Minh có 4.137 luật sư và Hà Nội có 2.472 luật sư, thì tại các địa bàn khó khăn như Lai Châu chỉ có 2 luật sư, Bắc Kạn và Hà Giang chỉ có 6 luật sư hành nghề, khiến người nghèo vùng sâu vùng xa gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận hỗ trợ pháp lý.

  4. Luật sư có nghĩa vụ bắt buộc tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý không? Theo Luật Luật sư, thực hiện trợ giúp pháp lý là nghĩa vụ nghề nghiệp bắt buộc của luật sư với chỉ tiêu tối thiểu khoảng 10 giờ hoặc 2 vụ việc mỗi năm. Tuy nhiên, do thiếu chế tài kiểm soát nên thực tế có trên 60% luật sư chưa hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ này.

  5. Giải pháp tài chính nào được đề xuất để thu hút người thực hiện trợ giúp pháp lý chất lượng cao? Luận văn đề xuất điều chỉnh mức thù lao vụ việc tham gia tố tụng tăng từ 2 đến 3 lần so với định mức cũ, đồng thời áp dụng cơ chế đặt hàng dịch vụ công đối với các tổ chức hành nghề luật sư tư nhân tại 62 huyện nghèo để huy động tối đa nguồn lực xã hội.

Kết luận

  1. Khái quát hóa hệ thống cơ sở lý luận về chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý trong cấu trúc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và an sinh tư pháp.
  2. Phân tích thực trạng 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, chỉ rõ hạn chế về kỹ năng tranh tụng của 572 Trợ giúp viên và sự phân bổ bất bình đẳng của đội ngũ luật sư trên toàn quốc.
  3. Đúc rút bài học kinh nghiệm từ các mô hình trợ giúp pháp lý của 6 quốc gia tiêu biểu, khẳng định tính tất yếu của mô hình hỗn hợp chuyên nghiệp hóa tại Việt Nam.
  4. Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá: nhất thể hóa tiêu chuẩn Trợ giúp viên với luật sư, siết chặt quản lý nghĩa vụ luật sư, tăng thù lao chi trả từ 2 đến 3 lần và mở rộng cơ chế hợp đồng dịch vụ công.
  5. Đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp cho lộ trình hoàn thiện thể chế và sửa đổi toàn diện Luật Trợ giúp pháp lý trong giai đoạn 2016 - 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là việc xây dựng mô hình chuẩn hóa chức danh Trợ giúp viên pháp lý tiệm cận luật sư chuyên nghiệp, giải quyết triệt để rào cản năng lực đại diện, bào chữa cho người yếu thế. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan lập pháp nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất vào các văn bản luật sửa đổi. Hãy cùng nghiên cứu và vận dụng các giải pháp của luận văn nhằm thúc đẩy cải cách tư pháp và kiến tạo nền công lý bình đẳng, nhân văn cho mọi công dân.