phần Mở đầu, Kết luận,Tài liệu tham khảo và Phụ lục, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về quản trị nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Thực trạng về hoạt động quản trị nguồn nhân lực của Công ty cổ phần Kính VIGLACERA Đáp Cầu. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty cổ phần Kính VIGLACERA Đáp Cầu. 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực 1.1 Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Chưa lúc nào nguồn nhân lực trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đất nước đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có về công nghệ, vốn, cạnh tranh. Để có thể vượt qua thách thức nắm bắt cơ hội đó không ai khác dó chính là nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp. Đảng đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhân lực không chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố sản xuất, mà còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác.
Nếu biết khai thác và bồi dưỡng hợp lý thì nguồn nhân lực mang lại thành tựu nhất định cho doanh nghiệp cũng như cho xã hội. 6 Nguồn nhân lực (Human rersources) theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Rersources) , nguồn lực tài chính (Financial Rersources) cần được huy động, quản lý để thực hiện những mục tiêu đã định. Theo định nghĩa của Tổ chức lao động Quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO): Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực còn được hiểu theo nghĩa hẹp với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Với cách hiểu này, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân cư, bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi), có khả năng lao động. Đây là lực lượng lao động tiềm năng- nguồn lực quan trọng nhất có thể huy động vào các hoạt động của nền kinh tế- xã hội. Trên cơ sở đó, nguồn nhân lực bao gồm 2 bộ phận: Thứ nhất, là bộ phận nguồn nhân lực có tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lượng lao động): là những người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hoá của xã hội, những người chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Thứ hai, là bộ phận NNL không hoạt động kinh tế (nguồn nhân lực dự trữ), bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì những lý do khác nhau họ không tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội như những người đang làm nội trợ gia đình, người đang đi học, người nghỉ hưu trước tuổi quy 7 định và những người có khả năng lao động nhưng không tích cực tìm việc làm.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là tất cả người lao động có trong doanh nghiệp đó. Như vậy, nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những người có quan hệ lao động trong doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động quản lý, điều hành của doanh nghiệp. Nhân lực đó là nguồn lực có trong từng con người, nó bao gồm thể lực và trí lực (sự suy nghĩ, hiểu biết, quan điểm, lòng tin, nhân cách trong từng con người…). Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung vào việc khai thác các tiềm năng về trí lực của con người vì đây là một kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người và cũng có thể nói nó là một lợi thế cạnh tranh quan trọng nếu các doanh nghiệp biết khai thác tối đa nguồn lực này.
Quan điểm coi nhân lực là đầu tư đã thay thế cho quan điểm coi nhân lực là chi phí. Vì thế các doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp quản trị nguồn nhân lực sao cho có hiệu quả nhất để nguồn nhân lực thích ứng với sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ và sự phát triển của nền kinh tế trí thức. Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp với các chủ thể kinh doanh khác trong môi trường cạnh tranh. Trong bất kỳ thời đại nào, xét về nguyên tắc sự tăng trưởng kinh tế bao giờ cũng được quy định bởi nhân tố con người, bởi xét tới cùng trình độ xã hội trước hết phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ và trình độ nghề nghiệp của người lao động.
Trong phạm vi một doanh nghiệp, con người trước hết là yếu 8 tố cấu thành nên doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp tồn tại được thông qua việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp và là yếu tố quyết định sự thắng bại của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp có tồn tại và đứng vững được trong thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay hay không đều phụ thuộc vào khả năng thực hiện công việc của người lao động trong doanh nghiệp đó. Nguồn nhân lực là nguồn lực chính yếu thúc đẩy sự thành công của bất kỳ tổ chức nào. Chính phủ một nước có thể làm tăng tài sản của đất nước thông qua nguồn lực này.
Đối với những nước thuộc thế giới thứ ba, những nước đang phát triển, nguồn nhân lực chính là cơ hội rút ngắn khoảng cách về của cải với các nước phát triển. Còn đối với những nước phát triển nguồn nhân lực vừa là cơ hội, vừa là mối đe doạ. Tuy nhiên, ngày nay ít có doanh nghiệp và Chính phủ nào biết phát huy sức mạnh của nguồn nhân lực của mình, biến trí tuệ con người thành tài sản. Trong xu thế của nền kinh tế hội nhập toàn cầu hiện nay, các sản phẩm hàng hoá tiêu dùng đòi hỏi chất lượng phải tốt, giá cả phải thấp nhất, có sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập, đồng thời mẫu mã phải đẹp và thay đổi kịp thời với nhu cầu của khách hàng…Phải đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trên thì các doanh nghiệp mới có thể phát triển được và có được vị trí nhất định trên thị trường.
Để làm được điều này, doanh nghiệp phải có một đội ngũ công nhân lành nghề, đủ trình độ để nắm bắt nhanh chóng, kịp thời những công nghệ tiên tiến, hiện đại để áp dụng vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ giỏi, ổn định cũng sẽ giảm thiểu những chi phí phát sinh không đáng có trong sản xuất (số sản phẩm hỏng sẽ giảm, máy móc ít gặp sự cố hơn, giảm chi phí cho việc thuê mướn thợ sửa chữa…). Ngay cả khi trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp được trang bị bằng phần lớn dây chuyền sản xuất tự động thì doanh nghiệp vẫn cần những lao động giỏi để vận hành hệ 9 thống dây chuyền đó. Chính vì vậy, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất, là nguồn tài nguyên có lợi thế cạnh tranh nhất, trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và đóng góp một phần cho xã hội.
Nguồn nhân lực ngày nay được các nhà quản trị thừa nhận là năng lực cốt lõi để sáng tạo giá trị cho tổ chức, cho khách hàng và tạo lập vị thế cạnh tranh bền vững cho công ty. Bởi vậy nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Chúng ta đang ở trong thời đại đầy thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức - thời đại của toàn cầu hoá và khu vực hoá. Các nước trên thế giới hiện nay đang tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế và tìm cách mở rộng thêm giao thương hướng ra thị trường bên ngoài chứ không còn tìm cách bảo hộ, đóng cửa nền kinh tế trong nước.
Đối với những nước đang phát triển, cơ hội tìm thêm thị trường, bạn hàng, nhà cung cấp và tìm kiếm nguồn nguyên liệu dồi dào trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên, họ phải đối đầu với rất nhiều thách thức, rủi ro, đặc biệt là các đối thủ cạnh tranh lớn từ các nước phát triển. Các đối thủ này rất mạnh về tiềm lực tài chính, và đã chiếm một vị trí vững vàng trên thị trường thế giới. Chính vì vậy, để cạnh tranh và tồn tại, không còn cách nào khác là phải tận dụng nguồn vốn sẵn có - nguồn nhân lực.
Hiện nay, không ít những nước đang phát triển đã có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực quản lý, đào tạo nguồn nhân lực của mình cũng như tiến những bước tiến đều đặn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho quản lý, phát triển tài nguyên nhân lực. Có thể lấy ví dụ ở những con rồng Châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan. Những nước này đã nhận thức rất sớm tầm quan trọng của chiến lược phát triển con người để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế. Chiến lược phát triển nhân lực của những nước này ngày 10 nay còn được hỗ trợ thêm bằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là của công nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin và công nghệ sinh học đã và sẽ làm nảy sinh thêm nhiều ngành nghề mới, trong điều kiện đó, chỉ có nguồn nhân lực linh hoạt mới có khả năng thích ứng nhanh với các nhu cầu phát triển của sản xuất. Trong xu thế này, nguồn nhân lực trở thành vũ khí cạnh tranh cốt tử của mỗi quốc gia.