CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 1. Nguồn vốn đầu tư 1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tư của xã hội là nguồn được hình thành trên cơ sở huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật pháp.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: Nguồn vốn từ NSNN; nguồn vốn tín dụng (tín dụng Nhà nước, tín dụng Ngân hàng); các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác. Phân loại nguồn vốn đầu tư Điều kiện cần cho hoạt động đầu tư là phải có vốn, đặc biệt trong điều kiện kinh tế hội nhập, nền kinh tế còn gặp khó khăn, vốn đầu tư được huy động bằng nhiều nguồn khác nhau và được phân loại như sau: a. Nguồn vốn đầu tư trong nước - Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước: Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “Là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
[15] Nguồn vốn đầu tư từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền kinh tế - xã hội; các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư. Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ. Nguồn vốn NSNN được hình thành từ tiết kiệm của NSNN, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của NSNN. Thu của NSNN được thực hiện chủ yếu là từ thuế và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ phí và thu khác.
Chi của NSNN bao gồm: Chi 6 van cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên cho quản lý hành chính, quốc phòng - an ninh, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, chi các sự nghiệp kinh tế. Muốn tăng nguồn tích lũy của NSNN phải phấn đấu tăng thu và tiết kiệm chi. Vốn đầu tư phát triển qua kênh NSNN được thể hiện qua hai phần: Một phần vốn đầu tư xây dựng công trình tập trung của Nhà nước, một phần từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm. - Nguồn vốn tín dụng Nhà nước: Là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành.
Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn nhưng nguồn thu lại không thể đáp ứng được, để thỏa mãn nhu cầu này, Chính phủ thường cân đối ngân sách bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ. Ở nước ta hiện nay, Trái phiếu Chính phủ có các hình thức sau đây: Tín phiếu, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư… Đối với vốn đầu tư phát triển, hình thức tín dụng nhà nước có thể tác động lên hai mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó, nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng. - Nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước: Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước vì nhiều lý do khác nhau: Bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh doanh ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu quả kinh tế thấp, nhất là ở những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch vụ công cộng. Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau: Là nguồn vốn do NSNN cấp cho các tập đoàn, công ty nhà nước nắm 100% vốn hoặc cổ phần chi phối, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hướng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối với các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để lại doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm. có vai trò rất quan trọng trong 7 van việc huy động vốn đầu tư phát triển. Các tổ chức này có ưu điểm là có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tượng vay vốn chấp hành đầy đủ những quy chế tín dụng. Sở dĩ các tổ chức này có thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lượng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử dụng dưới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa dạng.
Mặt khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (bao gồm vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn), tùy thuộc vào nhu cầu của người đi vay. - Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh: Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh được hình thành từ nguồn tiết kiệm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài Những nước đang phát triển như nước ta, dù có huy động tối đa nguồn vốn trong nước cũng chưa thể thỏa mãn nhu cầu cho đầu tư phát triển, nhất là trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp như hiện nay. Với tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu trên, đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ giao thương kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã trở thành nhu cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau: - Viện trợ phát triển chính thức (ODA): Là nguồn vốn do Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi. Nguồn này thường được tập trung vào Ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay. Hình thức viện trợ phát triển chính thức ngoài vốn ngoại tệ thường được đầu tư dưới dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia. - Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI): Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong 8 van phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" - Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO): Trước đây, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu là cho các nhu cầu nhân đạo như nhu cầu cung cấp thuốc men, lương thực, quần áo cho nạn nhân bị thiên tai, dịch bệnh, dịch họa. Những năm gần đây tính chất của những khoản viện trợ này đã có sự thay đổi, chuyển dần từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc đầu tư phát triển các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ.
Nếu chúng ta biết tranh thủ, khai thác các dự án của NGO thì có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp ở nông thôn phát triển. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn bằng vốn Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đầu tư phát triển giao thông nông thôn (GTNT) là một phần của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT), vì vậy trước khi tìm hiểu hiểu về khái niệm của GTNT chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về CSHT. Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp các dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố là: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự tham gia của CSHT mới tạo ra được sự phát triển tối ưu nhất, bởi lẽ CSHT có vai trò quyết định đến kiến trúc thượng tầng hay tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế, CSHT chỉ thực sự phát triển sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào Thế kỉ thứ 19. Cơ sở hạ tầng được chia làm 3 nhóm chính: CSHT kỹ thuật, CSHT xã hội và CSHT môi trường: [17] + CSHT kỹ thuật bao gồm các công trình và phương tiện vật chất phục vụ cho sản suất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, hệ thống điện, bưu chính viễn thông, … 9 van + CSHT xã hội là các công trình và phương tiện để duy trì và phát triển các nguồn lực như các cơ sở giáo dục đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, các cơ sở đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống công viên, các công trình đảm bảo an ninh xã hội.