CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Lý luận cơ bản về thuế GTGT 1. Khái niệm, bản chất, vai trò và chức năng của thuế 1.
Một số khái niệm về thuế Hiện nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Các nhà kinh tế học mới chỉ đưa ra khái niệm về thuế dựa trên các khía cạnh khác nhau của thuế. Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước” ( Giáo trình thuế, Ngô Kim Phương, 2008). Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”( Giáo trình thuế, Ngô Kim Phương, 2008).
Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mọi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu câu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”(Giáo trình thuế, Ngô Kim Phương, 2008). Mặc dù, các khái niệm về thuế của các nhà kinh tế tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở quan điểm thuế gắn liền với Nhà nước và đó là khoản đóng góp bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Từ đó, ở góc độ chung mang tính phổ biến có thể hiểu: Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì lợi ích chung. Nộp thuế là một nghĩa vụ xã hội; công dân không có quyền trốn và không được quyền đòi hỏi.
Do vậy, hai đặc trưng của Thuế thường được nhắc đến: Đó là tính cưỡng chế và tính không hoàn trả trực tiếp(Giáo trình thuế, Nhô Kim Phương, 2008). Bản chất của thuế Bản chất của nhà nước quy định bản chất của thuế. Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển.
Khi nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác của nhà nước. Những đặc điểm đó là: Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là một khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho NNT thông qua cơ chế đầu tư của NSNN. Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản(Giáo trình thuế, Ngô Kim Phương, 2008). Chức năng, vai trò của thuế a.
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường: - Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN: NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhưng thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN. Ở Việt nam chỉ tính riêng năm 2014 tổng thu thuế và phí do ngành thuế quản lý thu đuợc là 676.696 tỷ đồng, bằng 105% so với dự toán, tương ứng vượt 32.196 tỷ đồng và bằng 112,7% so với thực hiện năm 2013. - Thuế là công cục điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Để tạo sự công bằng trong xã hội, nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập của xã hội. Thuế là công cụ quan trọng để nhà nước sử dụng tác động trực tiếp vào quá trình này.
- Thuế là công cụ để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh: Qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước về mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội (KT-XH). - Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) ở một số ngành nghề, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý(Tổng cục Thuế, 2008). Chức năng của thuế: - Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập: - Chức năng điều tiết: + Điều tiết kinh tế: Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một công cụ sắc bén nhất được nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
+ Điều chỉnh chu kỳ kinh tế: Để điều tiết chu kỳ kinh tế có hiệu quả, thông thường các Nhà nước dựa vào việc áp dụng các loại thuế có mức ổn định tự động cao, điển hình là thuế đánh trên thu nhập theo biểu thuế lũy tiến. Tuy nhiên, cũng có Nhà nước dùng biện pháp điều chỉnh chính sách theo từng thời kỳ bằng cách hạ hay tăng thuế suất đánh vào những hoạt động chủ yếu để tác động đến toàn bộ nền kinh tế. + Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý: Bằng việc ban hành hệ thống chính sách thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với mức thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể. Thông qua đó nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ phát triển tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa các ngành trong nền kinh tế.
+ Điều chỉnh tích lũy vốn: Việc thay đổi chính sách thuế của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích lũy vốn và do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế. + Sử dụng thuế để bảo hộ sản xuất trong nước: Nhà nước về mặt nào đó cũng phải có trách nhiệm hơn với các nhà đầu tư là các công dân của mình, để giúp họ có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 yên tâm và kinh doanh có hiệu quả ngay trên đất nước của họ. Vì vậy xu thế bảo hộ cho các nhà đầu tư trong nước, cũng như khuynh hướng bảo hộ những ngành nghề sản xuất truyền thống của dân tộc là một tất yếu buộc mọi Nhà nước phải quan tâm bằng nhiều biện pháp và về lâu dài tránh được việc phụ thuộc vào nước ngoài về hàng hóa. + Thuế điều tiết tiêu dùng: Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt,.
sẽ làm giảm cầu với những hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước cho là cần phải hạn chế hoặc nên ưu đãi. + Thuế thực hiện điều tiết xã hội: Nền kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, thuế đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng công cụ thuế là một trong những công cụ rất nhạy cảm đối với nền kinh tế.
Vì vậy trong cả hai tình huống của nền kinh tế không phải bao giờ sử dụng công cụ thuế đều thành công. Do đó, để đưa nền kinh tế ổn định tương đối, cùng với thuế phải sử dụng kết hợp đồng bộ với các công cụ khác một cách nhịp nhàng( Tổng cục Thuế, 2008). Hệ thống thuế và chính sách thuế 1. Nhận thức về hệ thống thuế Hệ thống thuế là một khái niệm đang có nhiều quan niệm khác nhau.
Với những gốc độ tiếp cận khác nhau, người ta hình dung hệ thống thuế cũng rất khác nhau. Quan niệm hệ thống thuế được thay đổi và phát triển theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Theo một số nhà kinh tế học muốn xây dựng hệ thống thuế hợp lý cần phải đảm bảo theo bốn nguyên tắc cơ bản đó là: Thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; Mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác; Thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp thuế; Các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Hệ thống thuế được đánh giá là tốt, khi hệ thống thuế đó đảm bảo được các tính chất như: sự minh bạch, hiệu quả, công bằng đồng thời cũng rất linh hoạt khi vận dụng chúng trong điều tiết nền kinh tế.
Hệ thống chính sách thuế a. Khái niệm chính sách thuế “Hệ thống chính sách thuế là tổng hợp các quan điểm của nhà nước về các loại thuế trong một giai đoạn nhất định để sử dụng chức năng của thuế nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược chung của đất nước” (Tổng cục Thuế, 2008). Hệ thống chính sách thuế của Việt nam, bao gồm các sắc thuế: Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập các nhân, thuế tài nguyên, thuế môn bài,.được ban hành dưới các hình thức Luật. Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh tế, song chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế dù được xây dựng một cách ưu việt, hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể phát huy tác dụng nếu không được vận hành trong thực tiễn.