đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng như dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, vận chuyển hành khách công cộng. - Là hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh như hàng nhập khẩu trong các trường hợp hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình, bằng nguồn tiền NSNN cấp… - Các hàng hóa, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu, sản phẩm muối… - Hàng hóa nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam như: hàng chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam, hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu. - Hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá tăng thêm như dịch vụ tài chính. - Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước theo quy định của Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao 11 động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
* Đối tượng nộp thuế Là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi là các cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu). * Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất * Giá tính thuế: Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ (phương pháp khấu trừ ) hoặc đã có thuế giá trị gia tăng (phương pháp trực tiếp). Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam, trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế. * Thuế suất thuế GTGT Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại.
Hiện nay có 3 mức thuế suất thuế GTGT bao gồm: 0%, 5% và 10%. - Mức thuế suất 0% được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài, dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài, dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phát sinh, dịch vụ bưu chính, viễn thông, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến quy định tại khoản 23 điều 5 của Luật thuế GTGT năm 2008. 12 - Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng và các hàng hóa, dịch vụ cần ưu đãi như nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt, thuốc chữa bệnh, dụng cụ để dạy và học tập… - Mức thuế suất 10% : Áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc trường hợp áp dụng thuế suất 0%, 5%. * Phương pháp tính thuế GTGT: Tuỳ vào việc tuân thủ chế độ kế toán, chế độ quản lý và sử dụng hoá đơn khi mua, bán hàng hoá mà cơ sở kinh doanh sẽ thực hiện nộp thuế GTGT theo các phương pháp sau: - Phương pháp khấu trừ thuế: + Đối tượng áp dụng: Cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
+ Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT Số thuế GTGT Số thuế GTGT đầu vào = - phải nộp đầu ra được khấu trừ Trong đó: Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng; Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu và đủ điều kiện quy định tại của Luật thuế GTGT hiện hành. Sử dụng hóa đơn: Cơ sở kinh doanh tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng chứng từ đặc thù như tem, vé. - Phương pháp trực tiếp trên GTGT: + Đối tượng áp dụng: Cơ sở kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại 13 Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; Hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý.
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, vừa có hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý thì áp dụng tính thuế đối với các hoạt động này theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. + Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT GTGT hàng hoá, dịch Thuế suất thuế GTGT áp dụng = x phải nộp vụ chịu thuế bán ra đối với hàng hóa dịch vụ đó Trong đó: GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra được xác định bằng giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. GTGT thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu phải thu thêm mà bên bán được hưởng.
Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu đã có thuế GTGT dùng cho SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng. + Sử dụng hoá đơn: Cơ sở kinh doanh sử dụng hoá đơn bán hàng để giao cho khách hàng khi bán hàng hoá hoặc khi cung ứng dịch vụ. Trên hoá đơn ghi giá bán là tổng giá thanh toán đã có thuế. - Phương pháp trực tiếp trên doanh thu: + Đối tượng áp dụng: Đối với cơ sở kinh doanh (trừ các DN áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, hộ, cá nhân kinh doanh) bán hàng hoá, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn của hàng hoá, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ như hợp đồng và chứng từ thanh toán nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào.
14 + Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT GTGT hàng hoá, dịch Thuế suất thuế GTGT áp dụng đối = x phải nộp vụ chịu thuế bán ra với hàng hóa dịch vụ đó Trong đó: GTGT được xác định bằng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu. + Sử dụng hoá đơn: Quy định như đối với phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng. NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Sự cần thiết quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Quản lý thuế GTGT là quá trình tác động và điều chỉnh của Nhà nước đến thuế GTGT nhằm làm cho tất cả các doanh nghiệp phải thực hiện một cách nghiêm túc những quy định về thuế GTGT.
Thông qua đó, Nhà nước thu đúng thu đủ về thuế GTGT chống thất thu về thuế. Như vậy, có thể hiểu quản lý thuế GTGT là quá trình tác động có mục đích, có ý thức của Nhà nước vào việc huy động các nguồn thu từ thuế GTGT tập trung vào NSNN, thông qua các tổ chức, các cơ quan chức năng, thông qua thực thi các văn bản pháp lý và các phương pháp quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đề ra trong từng thời kỳ. + Chủ thể quản lý thuế GTGT: là Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng và trực tiếp là cơ quan thuế) + Khách thể quản lý: là các Doanh nghiệp, cá nhân, hộ kinh doanh hay còn gọi là người nộp thuế. + Đối tượng quản lý: là thuế GTGT.
Để thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước ban hành hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến thuế GTGT (chẳng hạn những qui định về đối tượng, phạm vi, thuế suất…). Cơ quan thuế tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về thuế GTGT đồng thời kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm. Các 15 doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện tốt những quy định pháp luật về thuế GTGT của Nhà nước đặc biệt là những quy định về nộp thuế. Bên cạnh ngành thuế - cơ quan quản lý trực tiếp quản lý thuế nói chung và thuế GTGT của các doanh nghiệp nói riêng còn có Kho bạc Nhà nước là cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý quỹ trong đó có các khoản tiền thu từ thuế.
Như vậy Kho bạc Nhà nước có chức năng cùng cơ quan thuế tham gia để thực hiện quản lý thu thuế. Theo đó, người nộp thuế phải trực tiếp nộp tiền thuế cho Kho bạc Nhà nước. Đồng thời Kho bạc Nhà nước căn cứ vào tài liệu của cơ quan thu (danh bạ người nộp thuế) và NNT để thực hiện việc nộp thuế. Các mối quan hệ trên được thể hiện qua sơ đồ 1.1 sau đây: (1) CQT (2) KBNN Đối tượng nộp thuế (3) GTGT Nhà nước - Người nộp thuế GTGT Sơ đồ 1.