Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp huyện 1. Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng 1.
Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Theo Khoản 15, Điều 3- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, ngày 18/6/2014, Dự án đầu tư xây dựng là: Tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng; Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Đầu tư xây dựng là huy động nguồn vốn để thực hiện xây dựng các công trình hạ tầng và nhiều lĩnh vực khác nhau hiện nay, những công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội mang tính chất xây dựng như: công trình thủy lợi, thủy điện, các công trình giao thông, cầu cảng, xây dựng nhà cửa và khu chung cư, công sở và nhà máy sản xuất nhằm phục vụ con người và nền kinh tế, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, được giao tham mưu thực hiện công tác quản lý dự án theo đúng các quy định của pháp luật về quản lý dự án.
Phân loại dự án đầu tư xây dựng Tiêu chí phân loại dự án đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 5 - Nghị định 15/2021/NĐ - CP ngày 03/3/2021. 6 - Phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình, thì dự án bao gồm: + Dự án quan trọng quốc gia + Dự án nhóm A + Dự án nhóm B + Dự án nhóm C - Phân loại theo loại nguồn vốn sử dụng: + Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước + Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách + Dự án sử dụng vốn khác 1. Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng Theo Điều 50 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, ngày 18/6/2014 và điều 6 - Nghị định 15/2021/NĐ-CP ban hành ngày 03/3/2021, trình tự đầu tư xây dựng của dự án bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án; thực hiện dự án và Kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ. Giai đoạn chuẩn bị dự án: Giai đoạn này gồm các công việc: tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
Giai đoạn thực hiện dự án: Giai đoạn này gồm các công việc: thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng Theo điều 51 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, ngày 18/6/2014, dự án đầu tư xây dựng không phân biệt các loại nguồn vốn sử dụng cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng. - Có phương án công nghệ và phương án thiết kế xây dựng phù hợp - Bảo đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Bảo đảm cấp đủ vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. - Tuân thủ quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổng quan về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm quản lý dự án Từ thời kỳ cổ đại, khi quản lý dự án chưa được nhận thức cũng như không có ghi chép nào về khái niệm này.
Đến đầu thế kỷ XX, khi thuyết quản lý khoa học của Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916) ra đời và đây cũng là nguyên mẫu đầu tiên cho các công cụ quản lý dự án hiện đại, bao gồm cả cấu trúc phân chia công việc (WBS - Work Breakdown Structure) và (Gantt Chart) giúp biểu thị thời gian biểu của dự án dùng để quản lý, lên kế hoạch và kiểm soát tiến độ công việc trong dự án. Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn 8 thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quá trình quản lý dự án gồm 03 giai đoạn chủ yếu: lập kế hoạch, điều phối thực hiện dự án và giám sát thực hiện các công việc dự án nhằm đạt được mục tiêu xác định. Trong đó: - Lập kế hoạch: Là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hoạt động thống nhất, theo trình tự logic.
- Điều phối thực hiện dự án: Là quá trình phân phối nguồn lực, bao gồm: tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng của điều phối là quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án, trên cơ sở đó bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. - Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm.
Vai trò của quản lý dự án đầu tư xây dựng - Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án. - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án - Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án. - Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo điều kiện cho đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng.
- Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn. Các hình thức thực hiện quản lý dự án Tùy theo quy mô, đặc điểm của dự án và năng lực của chủ đầu tư mà người quyết định đầu tư sẽ quy định hình thức thực hiện dự án; theo Nghị định 15/2021/NĐ - CP có các hình thức quản lý dự án như sau: (1). Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án Theo hình thức này, chủ đầu tư thành lập ban QLDA để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Ban QLDA có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban QLDA không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện trên cơ sở có sự đồng ý của chủ đầu tư.
Khái quát hình thức này qua hình sau: Hình 1. Hình thức chủ đầu tư trực tiếp thực hiện dự án (Nguồn Chính phủ, 2021) (2). Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án: Theo hình thức này, để thực hiện dự án, chủ đầu tư thuê các đơn vị tư vấn độc lập thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án của mình với điều kiện là các đơn vị tư vấn đó phải có đủ năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án. Khi áp dụng hình thức này, chủ đầu tư phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định các đầu mối để 10 kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án.
Hình thức quản lý này được khái quát qua Hình sau: Hình 1. Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý và điều hành dự án (Nguồn Chính phủ, 2021) 1. Nội dung công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng 1.