CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ GIỚI THIỆU VỀ CÁC DỰ ÁN DẦU KHÍ DO VIETSOVPETRO QUẢN LÝ 1.1 Cơ sở lý luận cơ bản về dự án đầu tư và quản lý dự án 1.1 Tổng quan dự án đầu tư 1.1 Khái niệm dự án a. Dự án: Theo một định nghĩa: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới”. (Từ Quang Phương, 2014) Trên góc độ tổng quát nhất, dự án có thể được hiểu là hệ thống các công việc đã được lập kế hoạch và xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, các rủi ro cũng như thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Nói cách khác, dự án là một quá trình hoạt động đã xác định rõ mục tiêu cần phải đạt được trong những ràng buộc nhất định về thời gian và nguồn lực để đạt mục tiêu đó.
Trên phương diện quản lý, theo tài liệu Hướng dẫn xuất bản năm 2017 của Viện quản lý dự án (Project Management Institute – PMI) có thể định nghĩa DA như sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Nguồn: Viện QLDA (PMI),2017 Hình 1.1 – Các mục tiêu của sự hình thành một dự án b. Dự án đầu tư: Có rất nhiều cách định nghĩa về dự án đầu tư, tùy thuộc theo quan điểm và mục đích mà nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó. Theo điều 3 Bộ Luật Đầu tư 2020 có quy định như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để Luan van 6 tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư chính là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế , xã hội trong một thời gian dài.2 Đặc điểm của dự án Từ những các quan điểm, các định nghĩa trên nêu bật hai đặc tính của dự án: Đầu tiên là nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn), nghĩa là tất cả các dự án đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc đã được xác định từ lúc hình thành dự án. Thứ hai là, sản phẩm, dịch vụ hoặc kết quả đầu ra dự án là duy nhất, khác với sản phẩm, dịch vụ tương tự hoặc kết quả đầu ra của DA khác. Cụ thể hơn, các đặc điểm cơ bản của một DA bao gồm : - DA có mục tiêu, kết quả xác định: nó là tập hợp của các công việc, nhiệm vụ cần được thực hiện.
Mỗi công việc, nhiệm vụ cụ thể lại cho ra kết quả riêng và độc lập. Tập hợp bao gồm các kết quả cụ thể của các công việc, nhiệm vụ tạo ra kết quả chung cho DA. - Các DA đều có một vòng đời phát triển độc lập và sự tồn tại của DA là hữu hạn về mặt thời gian. - Sản phẩm đầu ra của DA mang tính duy nhất, độc đáo.
Dự án khác với các hoạt động thường xuyên lặp lại hàng ngày trong sản xuất, trong công ty… là dự án không lặp lại, thường gắn với yếu tố mới đòi hỏi sự sáng tạo nhất định nhằm tạo thêm năng lực mới cho doanh nghiệp, ví dụ như sản xuất sản phẩm mới. - Các DA đều tồn tại mối liên hệ tương tác phức tạp giữa các bên tham gia, các bộ phận chức năng và bộ phận QLDA. Hầu như DA nào cũng có sự tham gia của nhiều bên liên quan như chuyên gia tư vấn, cơ quan quản lý của Nhà nước, các nhà thầu và chủ đầu tư. Tùy theo tính chất của dự án mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.
Để thực hiện thành công mục tiêu DA mối quan hệ với các bộ phận điều hành khác nhau cần phải được duy trì thường xuyên. Luan van 7 - Bên cạnh đó, dự án có một đặc điểm quan trọng khác là tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đều đòi hỏi phải có sự đầu tư về quy mô vốn, các nguồn lực lớn trong thời hạn xác định định. Thời gian của dự án càng kéo dài thì càng tăng khả năng phát sinh rủi ro cho dự án.
Công tác quản lý và điều hành dự án vì vậy mà phải tính đến đặc điểm này để xác định và phân tích các rủi ro tiềm tàng; từ đó xây dựng kế hoạch, lựa chọn các phương án và giải pháp ứng phó với những rủi ro, bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án; theo dõi, kiểm soat và có phản ứng kịp thời nhằm đảm bảo hạn chế tối thiểu tác động của rủi ro đến hoàn thành DA đúng yêu cầu.3 Vai trò của dự án đầu tư Dự án đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với các bên có liên quan. Đối với Nhà nước và các định chế tài chính Dự án đầu tư là cơ sở, văn kiện cơ bản để các cơ quan Quản lý Nhà nước xem xét, thẩm định và phê duyệt quyết định đầu tư, cấp giấy phép đầu tư, quyết định tài trợ vốn cho dự án. Đối với chủ đầu tư - Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để quyết định bỏ vốn đầu tư, là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư. - Dự án đầu tư là cơ sở để xin chủ trương đầu tư và cấp giấy phép thực hiện đầu tư.4 Phân loại dự án đầu tư Theo quy định hiện hành dự án đầu tư được phân loại như sau: a.
Phân loại dự án theo nguồn vốn huy động - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước. - Dự án sử vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn của tư nhân và vốn hỗn hợp.
Phân loại theo quy mô và tính chất - Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư. Luan van 8 - Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B và C theo quy định của pháp luật theo từng thời kỳ (hiện nay được quy định trong Phụ lục 1 thuộc Nghị định số 12/2009/NĐ-CP).2 Dự án đầu tư dầu khí 1.1 Khái niệm dự án đầu tư dầu khí Theo Quyết định số 4028/QĐ-DKVN ngày 12/5/2010 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc ban hành tiêu chí đánh giá, thẩm định và quyết định đầu tư dự án tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí thì Dự án đầu tư dầu khí được hiểu như sau “Dự án đầu tư để thực hiện các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí, kể cả hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt động này”. (Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, 2010) Dự án đầu tư dầu khí bao gồm các hình thức DA sau: - Dự án tìm kiếm thăm dò; - Dự án xây dựng, phát triển, khai thác được triển khai sau giai đoạn thăm dò trữ lượng, đánh giá tiềm năng và xin chủ trương đầu tư vào khai thác dầu khí; - Dự án chuyển nhượng các tài sản của hợp đồng chia sản phẩm dầu khí.2 Đặc điểm của dự án đầu tư trong ngành dầu khí Dự án đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí cũng mang những đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư phát triển thông thường, tuy nhiên hoạt động thăm dò khai thác dầu khí có sự khác biệt so với các dự án đầu tư phát triển thông thường khác ở một số đặc điểm sau: a. Các dự án đầu tư trong ngành dầu khí thường có mức độ rủi ro cao Dự án đầu tư dầu khí thường được bắt đầu trên cơ sở số liệu phỏng đoán chưa chắc chắn, chỉ dựa trên kinh nghiệm và các mỏ tương tự.
Điều này làm tăng mức độ rủi ro của dự án, nhất là trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò. Ngoài ra, các dự án này đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian tiến hành đầu tư và thời gian thu hồi vốn kéo dài, các thành quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụng lâu dài, hoạt động đầu tư phát triển cho dự án diễn ra trong thời gian dài nên phải chịu mức rủi ro rất cao… Toàn bộ chi phí đầu tư và vận hành nhận được dưới hình thức chi phí thu hồi theo luật chỉ trong điều kiện có phát hiện thương mại, và thời gian ngừng khai thác (đóng mỏ) chỉ được dự báo chứ không thể ấn định trước. Luan van 9 Hiện nay, có thể phân chia các loại rủi ro phổ biến đối với các hoạt động đầu tư, tìm kiếm, phát triển và khai thác các mỏ dầu khí như sau: - Rủi ro về nghiên cứu địa chấn, cấu tạo, địa chất vùng mỏ - Rủi ro về việc áp dụng kỹ thuật và cải tiến công nghệ trong hoạt động dầu khi - Rủi ro về chính trị xã hội - Rủi ro từ các sự kiện thiên nhiên, thiên tai - Rủi ro về giá dầu mỏ biến động - Rủi ro về chi phí đầu tư, ngân sách - Rủi ro về tiến độ triển khai các hoạt động dầu khí b. Dự án dầu khí đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn Trên thực tế, một dự án thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí đòi hỏi một lượng vốn đầu tư cực kỳ lớn, để có thể đưa một dự án dầu khí vào vận hành khai thác cần vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD.
Theo thống kê quốc tế để phát triển một mỏ dầu vào loại trung bình yêu cầu phải đầu tư từ 200 đến 500 triệu USD. Đối với các mỏ dầu lớn, vốn đầu tư lên đến hàng chục tỷ USD. Vì vậy yêu cầu quan trọng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này là phải có tiềm lực về tài chính dồi dào và ổn định. Chi phí của một số hạng mục của công tác thăm dò khai thác dầu khí được thống kê tại bảng sau: Bảng 1.