Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực tỉnh Hà Nam. Chương 4: Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực tỉnh Hà Nam trong giai đoạn tới.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ giai đoạn trước, đề tài về vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm từ các học giả, các chuyên gia nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn mà Việt Nam đẩy mạnh hoạt động xây dựng cơ bản một cách mạnh mẽ. Trong phạm vi của đề tài, tác giả trích dẫn một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: - Nguyễn Mạnh Đức (1994): “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam”, Luận án PTSKH Kinh tế, Trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Đề tài đã tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng và những tồn tại về tổ chức quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận khoa học hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam, lý luận khoa học hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản theo yêu cầu của cơ chế thị trường và đưa ra đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam trong những năm sau đó.
- Nguyễn Ngọc Định (1996): “Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam”, Luận án PTSKH Kinh tế, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh. Với tổng số 136 trang, luận án đã thực hiện phân tích các phương hướng và biện pháp hoàn thiện quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam, hệ thống hoá và khái quát hoá một bước các quan điểm mới về hoạt động đầu tư cơ bản trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. - Trần Văn Hồng (2002): “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước”, Luận án TSKH Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.
Đề tài đã nghiên cứu các vấn đề lí luận cơ bản về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và đề xuất 4 z một số giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước ta những năm sau đó. - Trần Thị Hồng Vân (2005): “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư của Đài tiếng nói Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư của Đài tiếng nói Việt Nam, đã đưa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện về công tác quản lý dự án tại Đài tiếng nói Việt Nam. Đề tài tập trung chủ yếu vào việc phân tích công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các nhóm dự án do các đơn vị trực thuộc của Đài tiếng nói Việt Nam làm CĐT.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài là về công tác quản lý dự án đầu tư tại một đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin - truyền thông. - Hoàng Đỗ Quyên (2008): “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân. Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc. Luận văn cũng tập trung chủ yếu vào việc công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các dự án thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý dự án.
- Cấn Quang Tuấn (2009): “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do thành phố Hà Nội quản lý”, luận án TS Kinh tế, Học viện Tài chính. Đề tài đã tập trung khai thác một số vấn đề chung về đầu tư phát triển và vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc ngân sách nhà nước, từ đó phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước thành phố Hà Nội thời gian qua và đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB tập trung từ NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Trịnh Thị Thuý Hồng (2012): “Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định”, luận án TS Kinh tế, Trường đại học Kinh tế Quốc dân, bảo vệ ngày 26/09/2012. Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản, trình bày thực 5 z trạng và các giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Nguyễn Thị Bình (2013): “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt Nam”, Luận án LATS Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án đã nghiên cứu vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước, và đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước trong ngành giao thông vận tải Việt Nam hai năm gần đây. Như vậy, nhìn chung, đề tài về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản là đề tài nhận được sự quan tâm từ nhiều học giả từ nhiều đơn vị khác nhau trong suốt nhiều năm qua, cũng là đề tài được nghiên cứu cả về cơ sở lý luận, thực trạng và các giải pháp, phạm vi nghiên cứu cũng ở nhiều địa phương, tỉnh thành khác nhau trên cả nước, và nội dung nghiên cứu cũng bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau trong các nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có các nội dung về quản lý nhà nước, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, ….Tuy nhiên, xét về các đề tài nghiên cứu về quản lý vốn đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực Hà Nam, và trong thời điểm nghiên cứu hiện nay là không có. Vì vậy, tính trùng lặp khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này không tồn tại, đồng thời, đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn đối với riêng Công ty Điện lực Hà Nam, đặc biệt là trong giai đoạn mà các yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng quản lý vốn đầu tư XDCB tại Công ty cũng như các đơn vị khác ngày càng cao.
Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản 1. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản 1. Các khái niệm cơ bản * Khái niệm đầu tư “ Đầu tư” là khái niệm khá quen thuộc, xuất hiện trong nhiều tài liệu cũng như trong đời sống thường ngày. Thông thường, người ta dùng khái niệm “đầu tư” để chỉ việc bỏ công sức, vốn, nguồn lực ra để nhằm mục đích sinh lợi cho cá nhân, hoặc tổ chức nào đó.
6 z Cũng có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm đầu tư. Trong phạm vi của đề tài, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm cơ bản về “đầu tư” như sau: “Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cụ thể nào đó của người sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định” (Nguyễn Mạnh Hà, 2012). “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Luật Đầu tư, 2003, Điều 3). “Đầu tư là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn)” (Wikipedia, khai thác tháng 04 năm 2015).
“Đầu tư là việc mua một tài sản hay một thứ nào đó với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn”. (investopedia, khai thác tháng 04 năm 2015) “ Đầu tư - theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó. Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có.