Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư XDCB 1. Những vấn đề chung về đầu tư XDCB 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò đầu tư XDCB * Khái niệm: Theo Bùi Mạnh Cường (2012) thì: “Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.
Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế” (Bùi Mạnh Cường, 2012). Đầu tư XDCB có ý nghĩa rất lớn, nhất là thời kỳ‘hội nhập như hiện nay. Nhờ hoạt động đầu tư XDCB mà cơ sở hạ tầng càng được hoàn thiện, xây dựng được các công trình kiến trúc, giao thông thuận tiện, hệ thống kênh mương, đê điều được hoàn thiện… đó là những yếu tố cần thiết làm cho nền kinh tế - xã hội phát triển, nhiều dự án đầu tư được thu hút, từ đó đưa đất nước nâng lên một vị thế mới, sánh vai với các quốc gia khác. Do vậy, hiện nay, Nhà nước cũng khuyến khích đầu tư XDCB trong lĩnh vực tư, tuy nhiên, do đặc tính sản phẩm của hoạt động đầu tư này chủ yếu mang tính chất phục vụ lợi ích công, đồng thời khả năng thu hồi vốn chậm, cần lượng vốn lớn nên đầu tư XDCB vẫn chủ yếu sử dụng nguồn vốn NSNN.
Vì vậy, hàng năm, tỷ trọng của nguồn ngân sách cấp cho hoạt động đầu tư XDCB luôn khá lớn. Tuy nhiên, hiệu quả do đầu tư XDCB mang lại chưa đạt như mức kỳ vọng, vẫn còn hiện tượng đầu tư sai, đầu tư dàn trải, làm cho lãng phí, thất thoát nguồn vốn hoặc tình trạng tiêu cực, tham nhũng. * Đặc điểm: Luan van 5 “Đa số các hoạt động đầu tư XDCB đều dùng NSNN, nên nguồn vốn thuộc về nhà nước chứ không thuộc về của một cá nhân nào. Bởi vậy, việc sử dụng và quản lý gặp rất nhiều khó khăn, tình trạng thất thoát vốn, sử dụng lãng phí nguồn vốn và tình trạng tham nhũng nguồn vốn thường xảy ra.
Mặt khác, trách nhiệm quản lý vốn thấp do có sự khác biệt giữa quyền sở hữu về vốn và quyền sử dụng, quản lý vốn. Bởi thế, không có động lực mạnh mẽ để thúc đẩy mỗi cá nhân sử dụng nguồn vốn có hiệu quả như khi thực hiện đầu tư sử dụng nguồn vốn tư nhân. Do đó, công tác quản lý đầu tư XDCB luôn là một vấn đề nhức nhối, phức tạp, là một bài toán khó đặt ra cho các nhà quản lý khi thực hiện bất cứ dự án nào sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước.” Đặc điểm cụ thể: - Đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN thường không mang tính thương mại, khả năng thu hồi vốn chậm, cạnh tranh thấp. - Đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN hầu hết không vì lợi nhuận bởi nó hướng mục tiêu hướng lợi ích kinh tế chung, đó là điểm khác so với đầu tư dùng vốn tư nhân hoặc vốn nước ngoài, mục tiêu lợi nhuận đặt lên hàng đầu.
- Đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN hầu hết không có môi trường cạnh tranh hoặc có thì cũng là thấp so với khu vực đầu tư khác. * Vai trò: - Góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo các nhà kinh tế trên thế giới: “Muốn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt 15-20% so với GDP tùy thuộc vào hệ số ICOR (hệ số phản ánh hiệu quả đầu tư của mỗi nước)”. Như vậy, ta thấy sự tác động rất lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của đầu tư XDCB tại mỗi quốc gia. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng nông thôn nền kinh tế phát triển kém, một trong những lý do chính là hệ thống cơ sở hạ tầng thấp, đường xá giao không đi lại khó khăn, nhu cầu Luan van 6 về ăn uống, học hành, sức khỏe của người dân không được bảo đảm ….
Do đó, đầu tư XDCB giúp tạo ra cơ sở vật chất, hạ tầng tại các địa phương này, làm chuyển đổi cục diện nền kinh tế kéo theo cuộc sống của người dân được nâng cao về chất lượng, từ đó giúp cho nền kinh tế - xã hội phát triển. - Tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội “Đầu tư XDCB là nền tảng tạo ra cơ sở tạo vật chất cho xã hội. Từ đó thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ mà của cải, vật chất tạo ra cho xã hội ngày càng nhiều, làm cho năng lực sản xuất của từng ngành ngày càng cao, góp phần gia tăng giá trị sản xuất và tổng sản phẩm trong nước. Mặt khác, đầu tư XDCB thông qua việc cải tạo, xây mới và sửa chữa những công trình hư hỏng cũng góp phần làm tăng tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân.” Nhờ đầu tư XDCB, nhiều công trình như trường học, bệnh viện, đường giao thông, kênh mương, đê điều… được xây dựng hoặc cải tạo.
Đó là những đóng góp không nhỏ để tạo ra của cải vật chất giúp cho các địa phương nói chung trên cả nước, nhất là các vùng nông thôn phát triển kinh tế - xã hội. - Giúp khoa học công nghệ phát triển Hiện nay, toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu của các nước trên thế giới. Nhờ có toàn cầu hóa, những nước kém phát triển có cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, tiếp thu những tinh hoa của khoa học công nghệ áp dụng vào tình hình thực tiễn của đất nước để đưa đất nước phát triển trên mọi lĩnh vực. Khi thực hiện mọi hoạt động đầu tư XDCB, để có được kết quả tốt về mặt kinh tế và cả mặt chất lượng công trình không thể thiếu sự đóng góp của khoa học công nghệ.
Các dự án, công trình ngày càng có yêu cầu cao về chất lượng, kỹ thuật, thời gian thực hiện ngắn, tiết kiệm nguồn nhân lực… nên càng đòi hỏi phải ứng dụng khoa học công nghệ mới. Do đó, đặt ra yêu cầu thay đổi các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế để kế tục sự nghiệp phát triển nền khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng hiện đại hơn. Luan van 7 - Tạo công ăn việc làm cho người lao động Bất cứ hoạt động đầu tư nào cũng cần có nguồn lao động. Thông qua đầu tư XDCB, nhiều công trình được triển khai thực hiện, nhờ đó tạo được công ăn việc làm cho một lượng lao động lớn.
Từ đó, chất lượng đời sống của người lao động, đặc biệt là người lao động ở các vùng nông thôn được cải thiện rõ rệt. Mặt khác, nhờ toàn cầu hóa cùng với nền khoa học công nghệ phát triển liên tục, thị trường lao động ngày càng đòi hỏi ở người lao động nhiều những kỹ năng, kinh nghiệm cũng như khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học - công nghệ. Do đó, trình độ của người lao động ngày càng được cải thiện. Các nguồn vốn để thực hiện đầu tư XDCB - Thứ nhất, nguồn vốn Nhà nước.
Bao gồm: + Vốn Ngân sách nhà nước: “Là nguồn vốn từ NSNN để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất mở rộng và tái sản xuất giản đơn ra các tài sản cố định trong nền kinh tế” (Bùi Mạnh Cường, 2012). Vì vậy, đây là tiền đề quan trọng của nền kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN là một bộ phận của đầu tư phát triển. +‘Vốn từ các doanh nghiệp nhà nước: “ Là nguồn vốn từ nguồn Ngân sách nhà nước chưa sử dụng đến hoặc vốn góp của nhà nước trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài được huy động để thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh” (Bùi Mạnh Cường, 2012).
Nguồn Ngân sách nhà nước chưa sử dụng đến bao gồm: vốn từ lợi nhuận sau thuế, nhà xưởng, khấu hao để lại… + Vốn tín dụng đầu tư phát triển: “Là nguồn vốn của nhà nước mà Chính phủ cho vay theo lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có, hoặc nhà nước đi vay để cho vay lại đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối với một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế” (Bùi Mạnh Cường, 2012). Luan van 8 + Nguồn vốn ODA: “Là vốn vay nợ, vốn viện trợ phát triển chính thức từ bên ngoài của Chính phủ” (Nguyễn Huy Chí, 2016). Khi thực hiện các dự án, một phần nguồn vốn sẽ được đưa vào ngân sách đầu tư, một phần sẽ được đưa vào nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước để cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay lại. - Thứ hai, nguồn vốn từ khu vực tư nhân và các khoản đóng góp tự nguyện của người dân: “Là nguồn vốn bao gồm của cải vật chất, sức lao động để xây dựng các dự án, công trình phúc lợi hoặc dự án vì mục đích chung của cộng đồng” (Nguyễn Huy Chí, 2016).
- Thứ ba, nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài: “Là việc các tổ chức, cá nhân của một quốc gia đưa vốn dưới các hình thức khác nhau vào một quốc gia khác để tiến hành các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp” (Nguyễn Huy Chí, 2016). Vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam là “Nguồn vốn do nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của Việt Nam, nhưng không tham gia công việc quản lý trực tiếp” (Nguyễn Huy Chí, 2016). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Inverstment – FDI) ở Việt Nam là “Nguồn vốn nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức tự đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh.
Ngoài ra còn có nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (Non- Government Organization – NGO)” (Nguyễn Huy Chí, 2016). Quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN 1. Khái niệm, vai trò của quản lý đầu tư XDCB * Khái niệm Để hiểu rõ khái niệm đầu tư XDCB, trước hết cần nắm được khái niệm quản lý: “Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra”.