phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Lý luận về quản lý đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN Chƣơng 2. Thực trạng quản lý đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN của tỉnh Quảng Bình Chƣơng 3. Các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN tỉnh Quảng Bình.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý ĐTXD đã đƣợc thực hiện nhiều trên thế giới và Việt Nam áp dụng ở nhiều địa phƣơng từ khá lâu. Việc áp dụng các nghiên cứu này đã đem lại nh ng kết quả to lớn, góp phần cho sự phát triển KT-XH ở nhiều địa phƣơng. Quản lý đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện đầu tƣ. Quản lý đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN nhằm quản lý vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc đƣợc sử dụng đúng mục đích, phát triển hài hòa gi a lợi ích kinh tế và xã hội.
Thực hiện các biện pháp đảm bảo dự án thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ đề ra, ngăn ngừa các tiêu cực trong quá trình thực hiện đầu tƣ và sử dụng vốn đầu tƣ hiệu quả. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình, luận án, luận văn nghiên cứu, chƣơng trình giảng dạy về quản lý đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN, cụ thể nhƣ: - Chƣơng trình giảng dạy kinh tế Fullbright “Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công thực trạng ở Việt Nam và Kinh nghiệm quốc tế” của TS. Vũ Luan van 5 Thành Tự Anh đã so sánh thực trạng của quản lý đầu tƣ công ở Việt Nam với chuẩn mực quản lý đầu tƣ công lý tƣởng (đƣợc tổng kết từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế), để từ đó tìm ra nh ng hạn chế trong quản lý đầu tƣ công ở Việt Nam, trên cơ sở đó đƣa ra các khuyến nghị chính sách thích hợp. Mặc dù có một vài sự khác biệt trong chi tiết, nhƣng về đại thể, cả OECD, WB, IMF đều quan niệm rằng quản lý đầu tƣ công (Public Investment Management - PIM) là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành nh ng định hƣớng lớn trong chính sách đầu tƣ công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tƣ cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tƣ công, qua đó đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng và phát triển chung của nền kinh tế.
- Luận án Tiến sỹ của tác giả Vũ Huy Phong: “Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; của tác giả Hồ thị Hồng Hạnh:“Quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005 – 2015” cho thấy các tỉnh đã có quy định về phân cấp r ràng, có nh ng cơ chế chính sách về quản lý đầu tƣ xây dựng. Mức độ phân cấp cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Chủ tịch UBND các Thành phố, thị xã, huyện tùy theo điều kiện cụ thể của từng tỉnh. Việc phân cấp quản lý đều gắn với trình độ năng lực cán bộ của từng cấp. Các nghiên cứu cũng chỉ ra nh ng ƣu điểm của việc áp dụng phân cấp quản lý dự án đầu tƣ đã tạo điều kiện giành quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm cho các cấp ở cơ sở và các đơn vị chủ đầu tƣ.
Tuy nhiên cũng còn bộc lộ một số nhƣợc điểm do trình độ cán bộ ở cơ sở còn thiếu và chƣa đáp ứng yêu cầu về năng lực. - Bài viết trên Tạp chí Tài chính của tác giả GS-TS Vƣơng Đình Huệ (2012), ịnh hướng, giải pháp tăng cư ng và nâng cao hiệu quả đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn” đã chỉ ra: cần tiếp tục đổi mới phân cấp quản lý đầu tƣ công gắn việc quyết định đầu tƣ với việc phân bổ Luan van 6 nguồn lực và cân đối vốn. Về công tác thẩm định dự án đầu tƣ, các tỉnh đều tuân thủ quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch vùng, ngành, áp dụng đúng chế độ chính sách của Nhà nƣớc hiện hành, đúng thời gian quy định và giảm thủ tục phiền hà theo chế độ một cửa. Các dự án đã thẩm định cơ bản đã đƣợc bố trí kế hoạch thực hiện đầu tƣ; một số dự án đã hoàn thành đƣa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả cao.
Tuy nhiên độ chính xác của công tác thẩm định chƣa cao do chất lƣợng dự án, thiết kế, dự toán còn thấp. Một số dự án đã đƣợc thẩm định và phê duyệt nhƣng không thực hiện hoặc thực hiện không đảm bảo quy mô tiến độ ban đầu đƣợc duyệt. Số lƣợng dự án đầu tƣ sử dụng vốn ngân sách đƣợc thẩm định qua các năm tăng nhiều. Tổng mức đầu tƣ các dự án đƣợc phê duyệt cũng rất lớn.
Vì vậy trong giải pháp của các tác giả đã đề xuất cần hoàn thiện quy trình thẩm định, phê duyệt dự án sao cho việc thẩm định dự án cần gắn với cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn. Về công tác đấu thầu ở các tỉnh, qua các nghiên cứu cho thấy công tác đấu thầu đều đạt hiệu quả cao. Thông qua đấu thầu đã lựa chọn đƣợc nhà thầu có đủ kinh nghiệm và năng lực để thi công. Công tác đấu thầu có nh ng hiệu quả, tạo đƣợc sự cạnh tranh, tạo động lực cho sự phát triển, đã tiết kiệm đƣợc vốn đầu tƣ cho ngân sách… - Luận án Tiến sỹ của NCS Bùi Đại Dũng về đề tài “Hiệu quả chi tiêu Ngân sách dưới sự tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới”.
Qua phân tích thực tiễn chi tiêu Ngân sách ở các nƣớc và dựa trên bối cảnh Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp: Áp dụng quy trình Ngân sách MTEF (Khung khổ chi tiêu Ngân sách Trung hạn), đánh giá lại chức năng của Chính phủ trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch cụ công cho Nhân dân, tách việc quản lý nhà nƣớc ra khỏi nhiệm vụ sản xuất và cung cấp các hàng háo, dịch vụ công, tăng cƣờng tính minh bạch của các hoạt động chi tiêu công quỹ, nhất là của các quỹ ngoài Ngân sách, cải cách cơ chế bầu cử, tăng cƣờng sự minh bạch về trách nhiệm của các đại biểu dân cử. Luan van 7 Mặc dù các công trình nghiên cứu trên đã đề cập các vấn đề nâng cao chất lƣợng công tác quản lý đầu tƣ xây dựng nhƣng chủ yếu tập chung vào quản lý ở tầm vĩ mô của Đảng, Nhà nƣớc. Một số nghiên cứu giải quyết nh ng vấn đề cụ thể của chỉ ở địa phƣơng ngay trong thời điểm nghiên cứu đó nhƣng lại nảy sinh nh ng vấn đề khác cần giải quyết trong thời gian dài. Qua nghiên cứu các các công trình, đều đƣa ra giải pháp tăng cƣờng phân cấp quản lý đầu tƣ xây dựng.
Tuy nhiên việc tăng cƣờng phân cấp đƣợc thực hiện ở một số địa phƣơng chƣa phát huy đƣợc hiệu quả. Đi cùng với việc cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà là vấn đề đầu tƣ dàn trải, nợ đọng XDCB. Thực tế ở các địa phƣơng, nhiều công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tƣ thấp, ở nhiều công trình giá trị khối lƣợng hoàn chƣa đƣợc thanh toán lớn. Riêng đối với công tác quản lý đầu tƣ đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN tại tỉnh Quảng Bình chƣa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể, do vậy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn với mong muốn góp thêm một số giải pháp.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG VỐN NSNN 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm Đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn ngân sách nhà nƣớc là việc sử dụng vốn Nhà nƣớc để đầu tƣ vào các Chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội, không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, không nhằm mục đích kinh doanh Đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN là các khoản chi của Chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng, chẳng hạn nhƣ khi Chính phủ bỏ tiền ra để phát triển đƣờng xá, trƣờng học, trạm y tế… Đầu tƣ cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN là một thành phần quan trọng của tổng cầu. Kinh tế học Keynes cho rằng đầu tƣ có tác dụng thúc đẩy tổng cầu thông qua số nhân tài chính, thông qua đó họ đề cao vai trò chính sách tài chính Hoạt động đầu tƣ bằng vốn NSNN bao gồm toàn bộ lập, phê duyệt kế hoạch, chƣơng trình, dự án đầu tƣ bằng vốn NSNN; triển khai thực hiện đầu tƣ, quản lý và khai thác sử dụng các dự án đầu tƣ.
Vai trò và đặc điểm về đầu tƣ bằng vốn ngân sách và cơ sở hạ tầng a. Vai trò và đặc điểm của cơ sở hạ tầng Hạ tầng là đối tƣợng chính của đầu tƣ bằng vốn NSNN và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển. Hệ thống hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Ngƣợc lại, một hệ thống hạ tầng kém phát triển là một cản trở lớn đối với sự phát triển.
Ở nhiều nƣớc đang phát triển hiện, hạ Luan van 9 tầng thiếu và yếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tƣ, gây ra nút cổ chai hạ tầng ảnh hƣởng trực tiếp đến tăng trƣởng nền kinh tế. Toàn bộ hạ tầng có thể đƣợc phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau, cụ thể: - Căn cứ theo lĩnh vực kinh tế xã hội thì hạ tầng có thể đƣợc phân chia thành hạ tầng phục vụ kinh tế, hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội và hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng.