phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước. Thực trạng hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian gần đây, các vấn đề liên quan đến quản lý chi NSNN đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế và các bài viết đăng trên báo, tạp chí của Trung ương và địa phương, cụ thể: - Luận án tiến sĩ kinh tế “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, với nội dung phân tích thực trạng thu, chi NSNN, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN tỉnh An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững với tầm nhìn đến năm 2020. - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Hà Việt Hoàng, luận văn làm đề cập đến công tác quản lý ngân sách t lập dự toán đến quyết toán và kiểm tra ngân sách - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Lê Thị Thu Hồng, luận văn đề cập quy trình trong lập, chấp hành và quyết toán ngân sách t khi 5 hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới và việc phân cấp quản lý ngân sách là xem xét các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong sử dụng ngân sách nhà nước tương ứng với 4 cấp ngân. - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Huỳnh Thị Cẩm Liêm, luận văn phân tích trên cơ sở quan điểm phát triển, quan điểm thị trường, phân tích nhằm phát hiện những cản trở sự phát triển, cản trở sự hình thành cơ chế thị trường để đưa ra những đề xuất nhằm đổi mới hệ thống chính sách và các biện pháp tạo điều kiện thực hiện các đổi mới công tác quản lý ngân sách trong điều kiện kinh tế thị trường. - Luận văn thạc sĩ “ Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Hà Tĩnh” Luận văn nêu được hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản t NSNN về tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách quản lý vốn, các khâu trong quy trình sử dụng vốn, kiểm tra – kiểm soát sử dụng vốn.
- Luận án tiến sĩ “ Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Trịnh Thị Thúy Hồng, luận án đưa ra các chỉ tiêu đánh giá quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB về kết quả chi, hiệu quả chi NSNN trong đầu tư XDCB, khảo sát chu trình quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB, một chỉ số toàn diện để đánh giá hiệu quả quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB t khâu Luật pháp, lập kế hoạch, lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán cho đến khâu kiểm tra, thanh tra, đánh giá chương trình. - Luận văn thạc sĩ kinh tế “Quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng” của tác giả Nguyễn Văn Ngọc, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu những vấn đề chung về quản lý sử dụng ngân 6 sách nhà nước. Thực trạng quản lý và sử dụng ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Lâm Đồng.
Tăng cường các biện pháp quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Luận văn chưa làm rõ vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản. - Luận văn thạc sĩ “Quản lý chi N NN Việt Nam trong h i nhập kinh tế toàn cầu” của tác giả Nguyễn Thái Hà, luận văn đề cập đến đến quản lý chi ngân sách nhà nước trong hội nhập kinh tế toàn cầu nhưng chưa nêu được một cách cụ thể một cách cụ thể về kết quả đạt được khi đất nước ta hội nhập toàn cầu. - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện chính sách quản lý ngân sách tỉnh (thành phố) trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Lê Tiến Thiện, luận văn phân tích trên cơ sở quan điểm phát triển, quan điểm thị trường, phân tích nhằm phát hiện những cản trở sự phát triển, cản trở sự hình thành cơ chế thị trường để đưa ra những đề xuất nhằm đổi mới hệ thống chính sách và các biện pháp tạo điều kiện thực hiện các đổi mới công tác quản lý ngân sách trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Luận văn “ Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản t ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Toàn Thắng, Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản t Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hà Nội. Phân tích đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu t xây dựng cơ bản t đó đưa ra các phương hướng và giải pháp quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản t ngân sách Nhà nước tại thành phố Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Chi ngân sách nhà nƣớc a. Khái niệm, đặc điểm chi ngân sách nhà nước Khái niệm Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước. Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định. Đặc điểm của chi NSNN - Đặc điểm nổi bật của chi NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia.
Điều này xuất phát t chức năng quản lý toàn diện nền KT-XH của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế. - Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi NSNN do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH. Song song đó, các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
8 - Chi NSNN cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội,. đồng thời đó cũng là những khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ máy Nhà nước, chi hàng hóa dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư. - Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp. Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chi NSNN.
Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước. Tóm lại, chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, là công cụ để nhà nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Nội dung chi ngân sách nhà nƣớc Chi NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Trong quản lý tài chính, chi NSNN được chia làm hai nội dung chi lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Chi thường xuyên Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT-XH. Cùng với quá trình phát triển KT- XH các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng gia tăng, do đó đã làm phong phú nội dung chi thường xuyên của NSNN. Chi thường xuyên là những khoản chi mang những đặc trưng cơ bản: - Chi thường xuyên mang tính ổn định Xuất phát t sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, t việc thực hiện các 9 chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn t ổn tính định trong t ng hoạt động cụ thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy Nhà nước.
- Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã h i Các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc phòng, an ninh, về các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Các khoản chi thường xuyên gắn với tiêu dùng của Nhà nước và xã hội mà kết quả của chúng là tạo ra các hàng hóa và dịch vụ công cho hoạt động của Nhà nước và yêu cầu phát triển của xã hội. - Phạm vi, mức chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức của b máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công c ng Các khoản chi thường xuyên hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, do đó nếu bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên giảm. Hoặc những quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên.