phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tácphân tích hiệu quả hoạt động tại công ty Xổ số kiến thiết Quảng Bình Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại công ty Xổ số kiến thiết Quảng Bình. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1 1 1 Hiệu quả hoạt động và phân tích hiệu quả hoạt động a. Hiệu quả hoạt động Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng nhƣ nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh (Nguyễn Ngọc Huyền, 2013).
Trong kinh doanh, hiệu quả liên quan đến việc sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ bằng cách sử dụng số lƣợng hoặc tài nguyên nhỏ nhất, nhƣ vốn, lực lƣợng lao động, tiêu thụ năng lƣợng,. Các doanh nghiệphoạt động hiệu quả có thể tạo ra các sản phẩm, cung cấp dịch vụ và hoàn thành các mục tiêu chung của họ với nỗ lực tối thiểu chi phí. Vì tài nguyên là hữu hạn và tốn kém, mục tiêu cuối cùng của chủ doanh nghiệp là xây dựng công ty hiệu quả và tạo doanh thu tối đa từ những đầu vào mà họ có. Để đạt đƣợc điều đó, doanh nghiệp phải phân bổ nhiều nguồn lực hơn cho nghiên cứu và phát triển, tái đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, chi nhiều hơn cho tiếp thị và bán hàng hoặc tăng tỉ suất lợi nhuận.
Phạm trù hiệu quả kinh doanh đƣợc biểu hiện nhiều dạng khác nhau, chính vì vậy việc phân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả. Phân loại hiệu quả hoạt động Theo cách phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau giúp cho ta hình 9 dung môt cách tổng quát về hiệu quả kinh doanh, do vậy có các cách phân loại sau (Nguyễn Ngọc Huyền, 2013; Nguyễn Hoài Nhân, 2013): - Hiệu quả tuyệt đối và tương đối Trong công tác quản lý, việc xác định hiệu quả nhằm giúp hai mục đích: thứ nhất, phân tích đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai là phân tích, lập luận ảnh hƣởng về kinh tế xã hội của các phƣơng án khác nhau trong nhiệm vụ cụ thể nào đó khi chọn lấy một phƣơng án có lợi nhất. - Hiệu quả tuyệt đối: là hiệu quả đƣợc tính cho từng phƣơng án bằng cách xác định mức lợi ích thu đƣợc so với chi phí bỏ ra.
Chẳng hạn tính toán lƣợng lợi nhuận thu đƣợc từ một đồng chi phí hoặc một đồng vốn bỏ ra. Về mặt lƣợng hiệu quả này biểu hiện ở các chỉ tiêu khác nhau: năng suất lao động, lợi nhuận, thời gian hoàn vốn… - Hiệu quả tƣơng đối: là hiệu quả đƣợc xác định bằng cách sắp xếp tƣơng quan các đại lƣợng thể hiện chi phí hoặc các kết quả ở các phƣơng án với nhau, các chỉ tiêu sắp xếp đƣợc sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả các phƣơng án để lựa chọn phƣơng án có lợi nhất về kinh tế. - Hiệu quả của chi phí bộ phận và hiệu quả của chi phí tổng hợp - Hiệu quả chi phí bộ phận: thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã đƣợc sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhƣ: lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… - Hiệu quả chi phí tổng hợp: thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và tổng chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp. Việc tính toán và phân tích hiệu quả của chi phí bộ phận cho thấy sự tác động của những nhân tố bộ phận kinh doanh đến hiệu quả kinh tế chung.
Việc tính toán và phân tích hiệu quả chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp hay của cả nền kinh tế. Về nguyên tắc, hiệu quả chi phí 10 tổng hợp phụ thuộc vào chi phí cuả các bộ phận. Việc giảm chi phí bộ phận sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tổng hợp và gia tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân - Hiệu quả kinh tế cá biệt: là hiệu quả thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, biểu hiện trực tiếp của hiệu quả này là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu đƣợc và chất lƣợng thực hiện những yêu cầu do xã hội đặt ra.
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả đƣợc tính toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Về cơ bản đó là giá trị thặng dƣ, thu nhập quốc dân hoặc tổng sản phẩm xã hội mà đất nƣớc căn bản thu đƣợc trong từng thời kì so với lƣợng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là việc nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình kinh doanh và những nguyên nhân ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đề ra các phƣơng án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
Mục đích của phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó là: - Nhằm đánh giá và kiểm tra khái quát kết quả đạt đƣợc so với mục tiêu kế hoạch đã đề ra, để xem xét xem, liệu rằng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp có cố gắng trong việc hoàn thành mục tiêu hay không. Từ đó tìm ra nguyên nhân và đƣa ra giải pháp để doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện. - Bên cạnh đó, việc phân tích cũng giúp cho doanh nghiệp thấy đƣợc những mặt ƣu thế của mình trên thị trƣờng. Từ đó, xây dựng cơ cấu mặt hàng kinh doanh có hiệu quả, góp phần nâng cao tổng mức lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Phân tích hoạt động kinh doanh cũng giúp ta nhìn ra các nhân tố bên 11 trong, bên ngoài ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh và tìm ra các nguyên nhân gây nên mức độ ảnh hƣởng đó. Từ đó, giúp đề ra các biện pháp khai thác khả năng tiềm tàng và khắc phục những yếu kém, tồn tại xuyên suốt trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cần thiết phải phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị trƣờng. nhất là trong cơ chế thị trƣờng hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt lẫn nhau.
Do đó để tồn tại đƣợc trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả hơn. Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày cành giảm thì nhu cầu của con ngƣời thì ngày càng đa dạng. Điều này phản ánh quy luật khan hiếm, buộc các doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? Sản xuất nhƣ thế nào? Vì thị trƣờng chỉ chấp nhận cách nào sản xuất đúng loại sản phẩm với số lƣợng và chất lƣợng phù hợp. Tóm lại, với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trƣờng dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của các doanh nghiệp về cả quy mô và chất lƣợng.
Tuy nhiên để tạo ra đƣợc sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một phƣơng thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lƣợc, các phƣơng án kinh doanh một cách phù hợp và có hiệu quả hơn. Muốn làm đƣợc điều đó doanh nghiệp cần phải phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, nhằm đƣa ra cơ sở và căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch phát triển trong tƣơng lai dựa trên việc đánh giá đúng tình hình hiện tại và quá khứ của doanh nghiệp. 12 1 1 2 Các tài liệu sử dụng trong phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp a. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là BCTC phản ảnh một cách tổng quát toàn bộ tài sản và nguồn vốn của công ty dƣới hình thức giá trị và theo một hệ thống các chỉ tiêu đã đƣợc qui định trƣớc.
Báo cáo này đƣợc lập theo một qui định định kỳ (cuối tháng, cuối quí, cuối năm). Bảng cân đối kế toán là nguồn thông tin tài chính hết sức quan trọng trong công tác quản lý của bản thân công ty cũng nhƣ nhiều đối tƣợng ở bên ngoài, trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà Nƣớc. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là BCTC phản ánh tổng hợp về doanh thu, chi phí và kết quả lãi lỗ của các hoạt động kinh doanh khác nhau trong công ty. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng là nguồn thông tin tài chính quan trọng cho nhiều đối tƣợng khác nhau, nhằm phục vụ cho công việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của tài sản.
Các tài liệu khác Báo cáo tài chính là những báo cáo đƣợc lập dựa vào phƣơng pháp kế toán tổng hợp số liệu từ sổ sách kế toán theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hay thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất định. Đồng thời giải trình giúp cho các đối tƣợng sử dụng thông tin tài chính nhận biết đƣợc thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị đề ra các quyết định phù hợp.