lời mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của cải thiện môi trƣờng kinh doanh trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng môi trƣờng kinh doanh ở Việt Nam. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cải thiện môi trƣờng kinh doanh trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam. 5 } CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CẢI THIỆN MÔI TRƢỜNG KINH DOANH TRONG QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1.
Lý luận chung về thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng Xã hội chủ nghĩa và tác động của nó tới môi trƣờng kinh doanh. Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa * Khái niệm về thể chế Hiện có rất nhiều tổ chức, cá nhân đƣa ra khái niệm khác nhau về thể chế: - Douglass C.North (1990) cho rằng thể chế là những quy tắc của trò chơi xã hội, hay là những giới hạn đƣợc vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con ngƣời hình thành nên các mối quan hệ qua lại của con ngƣời. - Năm 2001 Sokolof đã dƣa ra một định nghĩa mở rộng tiếp các quan niệm về thể chế, ông cho rằng thể chế là khung khổ chính trị và pháp lý tạo ra những nguyên tắc và luật lệ cơ bản cho hoạt động của các cá nhân và tổ chức; những tổ chức mang tính tự nguyện hoặc hợp tác giữa các chủ thế có tác động đến bản chất và tổ chức của sự trao đổi; các giá trị văn hoá và niềm tin có ảnh hƣởng tới hành vi kinh tế thông qua tác động của chúng đối với sự sẵn lòng tham gia và tuân thủ các nguyên tắc của thị trƣờng và đối với nội dung của hàng hoá, dịch vụ. Ở Việt Nam khái niệm về thể chế cũng đƣợc đề cập từ nhiều năm nay, nhiều nhà khoa học đã đƣa ra nhiều quan niệm về thể chế: - Theo TSKH Trần Nguyễn Tuyên: “Thể chế bao gồm các quy định, quy tắc, luật pháp, điều lệ và các chế tài xử lý vi phạm; bộ máy nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng, các yếu tố văn hoá, tâm lý, thói quen, trình độ tri thức”.
- TS Lê Ngọc Tòng lại cho rằng nói đến thể chế phải nói đến các luật lệ, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội, các tổ chức vận hành xã hội nói chung, nền kinh tế nói riêng và coi học thuyết phát triển, đƣờng lối chính trị và đƣờng lối kinh tế là một nội dung quan trọng của thể chế. 6 } Mặc dù còn có những sự khác biệt nhất định, song các khái niệm đều bao gồm: các bộ quy tắc, hay các “luật chơi”, chủ thể tham gia “trò chơi”, cơ chế thực thi quy tắc hay các “cách chơi”. * Khái niệm về thể chế kinh tế Thể chế kinh tế có thể đƣợc coi là bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, dựa trên các cách diễn giái về khái niệm thể chế nói chung, có thể suy ra thể chế kinh tế là một hệ thống bao gồm: các quy định về kinh tế của Nhà nƣớc và các quy tắc của xã hội đƣợc Nhà nƣớc công nhận, hệ thống các chủ thể thực hiện các hoạt động kinh tế; và các cơ chế, phƣơng pháp, thủ tục thực hiện các quy định và vận hành bộ máy đó, nó có thể đƣợc mô tả: Các yếu tố Nội dung Các quy tắc tạo thành - Khung pháp lý về kinh tế. “luật chơi” kinh tế - Các quy tắc, các chuẩn mực xã hội về kinh tế.
- Các cơ quan, các tổ chức nhà nƣớc về kinh tế. Các chủ thể tham gia - Các doanh nghiệp. “trò chơi” kinh tế - Các tổ chức đoàn thể, hội, cộng đồng dân cƣ và ngƣời dân. - Cơ chế tự do cạnh tranh.
Cơ chế thực thi “luật - Cơ chế phân cấp quản lý kinh tế. chơi” kinh tế - Cơ chế phối hợp. - Cơ chế tham gia, giám sát và giải trình… Các thể chế nói chung và thể chế kinh tế nói riêng đều có ảnh hƣởng mạnh, là một trong những nguyên nhân dẫn đến thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng, khi chất lƣợng các thể chế đƣợc nâng cao sẽ góp phần tăng thu nhập quốc dân, và ngƣợc lại khi thu nhập quốc dân cao sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng thể chế. * Khái niệm về thể chế kinh tế thị trƣờng: Thể chế kinh tế thị trƣờng là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế đƣợc tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi kinh tế trên thị trƣờng, bao gồm cả những giao dịch giản đơn của công dân đến các giao dịch của các hãng, 7 } các công ty lớn.
Các chủ thể tham gia “trò chơi” bên cạnh các doanh nghiệp và Nhà nƣớc thì các đoàn thể và các hội đại diện của xã hội dân sự cũng giữ vai trò là những chủ thể tích cực của nến kinh tế thị trƣờng. * Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam Kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN là một loại hình kinh tế thị trƣờng mới chƣa có tiền lệ trong lịch sử vì vậy cũng nhƣ nhiều nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi khác, các thể chế cần thiết cho việc vận hành nền kinh tế ở Việt Nam không có sẵn điều đó đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, làm rõ nội hàm và các đặc trƣng cơ bản của thể chế kinh tế này trong lý luận và trên thực tiễn. Trong thời gian quan nhờ các nỗ lực của các bên có liên quan, một số vấn đề cơ bản liên quan đến nội hàm của “thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN” nhƣ mục tiêu, công cụ thực hiện kinh tế thị trƣờng, các vấn đề về phân phối, sở hữu, vai trò của Nhà nƣớc… dần dần đƣợc sáng tỏ. Có thể nói thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam: Là thể chế kinh tế đƣợc xây dựng và thực hiện nhằm đạt đƣợc mục tiêu dân giầu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, là thể chế kinh tế cho phép giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, đồng thời khuyến khích ngƣời dân làm giầu chính đáng và giúp đỡ tạo điều kiện để ngƣời khác thoát nghèo, từng bƣớc khá giả hơn.
Là thể chế kinh tế cho phép tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nƣớc, kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Là thể chế của nền kinh tế trong đó tiến bộ và công bằng xã hội đƣợc thực hiện ngay trong từng bƣớc và từng chính sách phát triển; tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo đƣợc thực thi trong sự gắn kết chặt chẽ với nhau, nhằm giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con ngƣời. 8 } Là thể chế kinh tế bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nƣớc pháp quyền XHCN dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam. Nội dung chủ yếu của thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam - Về mục tiêu và công cụ: Hệ thống thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN hiện hành của Việt Nam đã cho phép phân biệt rõ hai khái niệm mục tiêu của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và các công cụ đƣợc sử dụng để đạt mục tiêu này.
Trong đó, mục tiêu phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN chính là để xây dựng một đất nƣớc Việt Nam “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, còn công cụ, phương tiện, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu đó đƣợc xác định chính là cơ chế thị trƣờng. - Về vấn đề sở hữu: Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam đã và đang phản ánh những đổi mới mạnh trong nhận thức (và cả hành động thực tiễn) về sở hữu và về các thành phần kinh tế, theo hƣớng chấp nhận đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Điều đó có nghĩa là quyền sở hữu tƣ nhân về vốn và các tƣ liệu sản xuất khác đƣợc chính thức công nhận, đƣợc thể chế hóa và đƣợc thể hiện trong thực tiễn hành xử theo hƣớng công bằng, không phân biệt theo quy định của pháp luật. - Về chức năng tổ chức quản lý của Nhà nước: các thể chế kinh tế thị trƣờng hiện hành, ở một mức độ nhất định, đã thể hiện đƣợc vai trò chủ yếu của Nhà nƣớc là quản lý Nhà nƣớc về kinh tế, giám sát thị trƣờng, quản lý xã hội và phục vụ công cộng.
Nhà nƣớc kết hợp việc phát huy tác dụng của cơ chế thị trƣờng với việc điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc một cách có hiệu quả, thông qua quá trình cải cách các thể chế có liên quan nhƣ: thuế, tài chính, tiền tệ và đầu tƣ, theo hƣớng phát huy tốt hơn nữa vai trò của thị trƣờng. Nhà nƣớc XHCN, thông qua chức năng tổ chức và quản lý vĩ mô, sử dụng các công cụ kinh tế, có phối hợp với các công cụ hành chính - pháp lý, đặc biệt là công cụ kế hoạch hoá và các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, các chiến lƣợc phát triển trung và dài hạn, các công cụ đòn bẩy, v. để quản lý nền kinh tế thị trƣờng phát triển đúng hƣớng. 9 } - Cơ chế vận hành kinh tế: cơ chế tự do cạnh tranh thị trƣờng đƣợc coi là cơ chế chủ yếu vận hành nền kinh tế, nhằm đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực, kích hoạt các tiềm năng kinh doanh và các lực lƣợng sản xuất, tăng hiệu quả và năng suất lao động xã hội.
Trong khi đó, các cơ chế khác (nhƣ cơ chế phân cấp, tham gia, phối hợp, v.) ngày càng đƣợc chú ý, nghiên cứu kỹ và từng bƣớc đƣa vào thực hiện. - Về vấn đề phân phối: mô hình phân phối trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN đang đƣợc thể chế hóa sao cho vừa có khả năng khuyến khích phát triển kinh tế, vừa đảm bảo đƣợc công bằng xã hội. Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam.