Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về môi trường đầu tư nước ngoài tại Hà Nội. Chương 2: Thực trạng môi trường đầu tư nước ngoài tại Hà Nội giai đoạn 2000-2010. Chương 3: Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Hà Nội. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI 1.
Khái niệm và các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư 1. Đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai. Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Môi trường đầu tư thường được hiểu là tập hợp các yếu tố khách quan và chủ quan, nằm bên ngoài tổ chức, định hình và tác động trực tiếp đến hoạt động của tổ chức.
Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và các yếu tố: cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư trong và ngoài nước của một quốc gia. Theo World Bank, môi trường đầu tư được định nghĩa như sau: “môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đặc thù của địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất”[19]. Môi trường đầu tư nước ngoài là tập hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. tác động đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư.
Các yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc điểm của môi trường đầu tư Tính khách quan của môi trường đầu tư: Không có một nhà đầu tư nào hay một doanh nghiệp nào có thể tồn tại một cách biệt lập mà không đặt mình 7 trong một môi trường đầu tư kinh doanh nhất định. Ngược lại, không có môi trường đầu tư nào mà lại không có một nhà đầu tư hay một đơn vị kinh doanh nào. Có thể nói ở đâu có hoạt động sản xuất kinh doanh thì ở đó sẽ hình thành môi trường đầu tư.
Môi trường đầu tư tồn tại một cách khách quan, nó vừa tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư nhưng đồng thời tạo ra các ràng buộc, rào cản đối với họ. Tuy nhiên thuật ngữ môi trường đầu tư không đứng riêng lẻ, nó luôn luôn phải gắn với một quốc gia hay một vùng nào đó: như môi trường đầu tư tại Việt Nam, môi trường đầu tư tại Trung Quốc… Môi trường đầu tư có tính tổng hợp: Tính tổng hợp của môi trường đầu tư thể hiện ở chỗ nó bao gồm nhiều yếu tố cầu thành, có quan hệ qua lại ràng buộc lẫn nhau. Số lượng và những yếu tố cấu thành của môi trường đầu tư tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ quản lý ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia. Vì thế mà môi trường đầu tư ở Trung Quốc khác với Việt Nam, môi trường đầu tư tại Bình Dương khác với Đà Nẵng hay Hà Nội.
Môi trường đầu tư có tính động: Các yếu tố cấu thành nên môi trường đầu tư luôn vận động biến đổi qua các thời kỳ. Sự vận động biến đổi đó chịu tác động của các quy luật vận động nội tại của từng yếu tố cấu thành môi trường đầu tư và nền kinh tế, chúng vận động và thay đổi để phù hợp với xu thế ngày càng phát triển và hoàn thiện. Các yếu tố của môi trường đầu tư như pháp lý, hành chính, cơ sở hạ tầng. luôn tác động đến hoạt động của nhà đầu tư, điều chỉnh hoạt động của họ cho phù hợp với tình hình thực tế.
Từ đó mà bản thân hoạt động đầu tư cũng thay đổi, kéo theo sự đòi hỏi cao hơn, hoàn thiện hơn của môi trường đầu tư. Do đó, sự ổn định của môi trường đầu tư chỉ mang tính tương đối trong một thời kỳ nhất định. Các nhà đầu tư muốn nâng cao hiệu quả đầu tư của mình thì cần có được dự báo về sự thay đổi của môi trường đầu tư, để có các quyết định phù hợp. 8 Mặt khác, muốn thu hút được nhiều nhà đầu tư thì bản thân quốc gia đó phải tạo được sự ổn định các yếu tố môi trường đầu tư, đặc biệt là yếu tố chính trị, pháp luật.
Khi nghiên cứu và đánh giá môi trường đầu tư phải đứng trên quan điểm động, các yếu tố của môi trường đầu tư phải được nhìn nhận trong trạng thái vừa vận động, vừa tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành những tác động chính cho sự phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư có tính hệ thống: Môi trường đầu tư có tính hệ thống thể hiện ở chỗ nó vừa có mối liên hệ và chịu sự tác động của các yếu tố thuộc môi trường rộng lớn hơn, theo từng cấp độ như: môi trường đầu tư ngành, môi trường đầu tư quốc gia, môi trường đầu tư quốc tế… Trong một môi trường đầu tư ổn định, mức độ biến đổi của các yếu tố thấp và có thể dự báo trước được, còn trong môi trường càng phức tạp thì nhà đầu tư càng khó dự báo với những thay đổi của môi trường đầu tư trong tương lai. Môi trường đầu tư nước ngoài cũng có những đặc điểm tương tự của môi trường đầu tư. Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư nước ngoài 1.
Yếu tố chính trị - văn hoá xã hội Sự ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Chính phủ nước sở tại cần có một chính sách hợp lý để ổn định chính trị và giữ cho xã hội ổn định trong một thời gian dài. Đặc biệt là đường lối đối ngoại cởi mở, hữu hảo sẽ thu hút được sự quan tâm, tán đồng, ủng hộ của các quốc gia trong vùng, cuốn hút họ cùng tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế của nước mình. Nội chiến không chỉ làm mất cả vốn lẫn lãi mà còn có thể ảnh hưởng đến sự an nguy tính mạng của nhà đầu tư.
Chiến tranh và các cuộc bạo lực tràn lan sẽ đặt dấu chấm hết cho tất cả các khoản đầu tư. Như vậy, ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư, định hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư. 9 Sự ổn định chính trị còn là điều kiện thiết yếu để duy trì sự ổn định về kinh tế - xã hội. Đây là yếu tố tác động trực tiếp và có tính toàn diện làm tăng hoặc giảm tính rủi ro trong hoạt động đầu tư.
Nguyên tắc hàng đầu của các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng là an toàn và khả năng sinh lãi. Vì hoạt động trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu nên các nhà đầu tư nước ngoài rất lo ngại tài sản của họ bị nhà nước tịch thu, quốc hữu hóa. Hơn nữa, tình hình chính trị không ổn định thường dẫn tới đường lối phát triển của đất nước không nhất quán. Có thể chính phủ đương nhiệm cam kết không quốc hữu hoá tài sản của người nước ngoài, của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhưng sau khi đất nước có sự thay đổi về chế độ chính trị, chính phủ mới chưa chắc đảm bảo những cam kết này hoặc đưa ra những sửa đổi, thay đổi làm đe dọa đến sự an toàn đối với tài sản của nhà đầu tư nước ngoài. Ngược lại, tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết đảm bảo đường lối phát triển nhất quán của nước chủ nhà. Nhờ đó, các cam kết đảm bảo độ an toàn đối với tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện. Sự ổn định chính trị của một quốc gia còn quyết định môi trường chính trị của các địa phương trong quốc gia đó.
Tuy nhiên, cùng một quốc gia, cùng dưới một chế độ chính trị như nhau nhưng ở mỗi vùng tính ổn định lại có xu hướng khác nhau. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế nói chung và thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng của địa phương đó. Như vậy, sự ổn định chính trị có tầm quan trọng rất lớn đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Sự ổn định chính trị không chỉ là điều kiện quan trọng đảm bảo an toàn vốn đầu tư mà còn có vai trò to lớn đảm bảo sự ổn định kinh tế - xã hội.
Yếu tố chính sách – pháp luật. 10 Hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đóng vai trò quyết định trong việc tạo diện mạo của môi trường đầu tư. Đó là điều kiện không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng. Hệ thống pháp luật của một quốc gia được biểu hiện qua một số nét sau: - Xây dựng thể chế - Tính đầy đủ và đồng bộ - Tính chuẩn mức và hội nhập - Tính rõ ràng, công bằng, công khai và khả năng thực thi.
Đây là yêu cầu hàng đầu của một hệ thống pháp luật nói chung một quốc gia. Đồng thời cũng là mối quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư nước ngoài. Do làm ăn ở nơi xa lạ, với lượng tài sản lớn nên các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào pháp luật của nước chủ nhà để đảm bảo quyền lợi của họ. Vì vậy, tính hiệu lực trong việc thực thi chính sách pháp luật sẽ hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, các chính sách của nước chủ nhà có tác động rất lớn đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, các chính sách tác động trực tiếp như quy định về lĩnh vực đầu tư, mức sở hữu của nước ngoài, miễn giảm thuế đầu tư, quy định về tỷ lệ xuất khẩu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. và các chính sách gián tiếp như chính sách về tài chính - tiền tệ, an ninh, đối ngoại. có ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.