Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát chi BHXH Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi BHXH tại BHXH TP Hội An Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi BHXH tại BHXH TP Hội An 6. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHXH ở nhiều khía cạnh khác nhau. Sau đây là một số đề tài nghiên cứu về kiểm soát chi BHXH đã đƣợc thực hiện: - Luận văn “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ”, luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, tác giả Luan van 4 Th.Nguyễn Thị Phƣơng Liên (2011). Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống kiểm soát nội bộ ở các đơn vị sự nghiệp nói chung; về Bảo hiểm xã hội và hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu chi Bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra đề tài còn đánh giá thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu chi Bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, những kết quả đạt đƣợc và hạn chế trong quá trình thực thi nhiệm vụ; từ đó đề xuất biện pháp triển khai hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động tại cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong công tác quản lý thu chi BHXH bắt buộc tại BHXH Phú Thọ. - Luận văn “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, tác giả Th.s Tiêu Thị Thu Hiền (2014). Đề tài đã dựa trên cơ sở lý luận của kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO 1992, bản hƣớng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI 1992 đang áp dụng ở các nƣớc tiên tiến trên thế giới nhƣ M , Canada.
để vận dụng và áp dụng vào hoạt động kiểm soát các rủi ro cho hệ thống ngành Bảo hiểm xã hội nói chung và cho Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đặc biệt đề tài đã sử dụng bảng câu hỏi để đánh giá, khảo sát thực trạng kiểm soát nội bộ đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đƣa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh; trong đó hoạt động đƣợc chú trọng nhất là quản lý thu - quản lý chi - quản lý qu Bảo hiểm xã hội. Luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng” của Đoàn Thị Lệ Hoa (2012) đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát chi BHXH, quy trình kiểm soát, nhằm tìm ra những tồn tại trong công tác quản lý chi của BHXH TP Đà Luan van 5 Nẵng từ đó đánh giá những mặt đƣợc và những mặt còn tồn tại cần khắc phục đối với công tác kiểm soát tại đơn vị. Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác kiểm soát chi BHXH tại TP Đà Nẵng đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát chi BHXH, hoàn thiện công tác lập dự toán, công tác kiểm tra đánh giá thực hiện so với dự toán, nâng cao chất lƣợng hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác kiểm soát,đáp ứng kịp thời và làm giảm những thất thoát qu BHXH cho quá trình quản lý qu BHXH tại BHXH TP Đà Nẵng trong giai đoạn kinh tế phát triển hiện nay.
Luận văn “Hoàn thiện kiểm soát chi Bảo hiểm xã hội tại tỉnh Phú Yên” của Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2012) đã nghiên cứu và phân tích thực trạng kiểm soát chi BHXH tỉnh Phú Yên từ môi trƣờng kiểm soát, quy trình lập kế hoạch và hoạt động kiểm soát chi trong quá trình hoạt động của đơn vị. Luận văn đã đánh giá đƣợc những hạn chế của thực trạng và từ đó đƣa ra đƣợc những đề xuất giải pháp: sự nhận thức và quan điểm quản lý của lãnh đạo, sự hỗ trợ của BHXH Việt Nam, cần hệ thống hóa công nghệ thông tin trên toàn quốc để kết nối dữ liệu tránh những trƣờng hợp gian lận, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành có liên quan, các văn bản chỉ đạo về công tác chuyên môn cho chặt chẽ thì mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi BHXH mang lại hiệu quả hữu hiệu. Tuy nhiên, luận văn chƣa đề cập đến môi trƣờng pháp lý hỗ trợ cho công tác kiểm soát chi BHXH đƣợc tốt hơn, chƣa đi sâu nghiên cứu các rủi ro có thể xảy ra ở các cơ quan liên quan đến công tác chi BHXH. Luận văn “Kiểm soát chi Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam” của Trần Thị Thu Hà (2014) đã nghiên cứu và phân tích thực trạng kiểm soát chi BHXH tỉnh Quảng Nam từ môi trƣờng kiểm soát, quy trình lập kế hoạch và hoạt động kiểm soát chi trong quá trình hoạt động của BHXH tỉnh Quảng Nam.
Trong luận văn, đã nêu ra những rủi ro mà BHXH Luan van 6 tỉnh Quảng Nam phải đối mặt nhƣ về năng lực chuyên môn của nhân viên BHXH, không có hệ thống kiểm soát đại lý chi trả BHXH, đối tƣợng cố tình làm sai thông tin, giả mạo giấy tờ để hƣởng trợ cấp BHXH, hệ thống thủ tục rƣờm rà, công tác kiểm tra chƣa thực hiện một cách thƣờng xuyên. Từ đó, đƣa ra những đề xuất giải pháp và hoàn thiện các giải pháp nhằm đảm bảo cho công tác quản lý, kiểm soát chi BHXH chặt chẽ và hiệu quả hơn. BHXH là chính sách lớn trong hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm mục đích mang đến cuộc sống ổn định cho tất cả mọi ngƣời. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHXH với nhiều khía cạnh khác nhau ở phạm vi lớn trên quy mô cả nƣớc trƣớc khi Luật BHXH 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Trên cơ sở những quy định của Luật BHXH hiện hành, kết hợp với khảo sát thực tiễn kiểm soát chi BHXH tại BHXH TP Hội An, luận văn phân tích thực trạng kiểm soát từng nội dung chi BHXH và tổng hợp đánh giá những kết quả, tồn tại trong kiểm soát chi BHXH tại BHXH TP Hội An và đƣa ra các biện pháp ngăn ngừa, xử lý gian lận, sai sót xảy ra trong quá trình chi BHXH tại đơn vị. Luan van 7 CHƯ NG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN C BẢN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI C QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 1. Kiểm soát và mục tiêu kiểm soát a.
Kiểm soát Theo các tác giả Jones và George cho rằng kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát trong quản lý là việc thực hiện đối chiếu kết quả đạt đƣợc với những quy phạm, quy định chung, với kế hoạch để từ đó đánh giá, điều chỉnh làm cho quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn nhằm đạt đƣợc mục tiêu đƣợc lập từ trƣớc. Theo COSO (2013), kiểm soát nội bộ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Kiểm soát nội bộ là một tiến trình đƣợc thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, đƣợc thiết kế để đem lại một sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt đƣợc các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan. Mục tiêu của kiểm soát Mỗi đơn vị thƣờng có các mục tiêu kiểm soát cần đạt đƣợc, để từ đó xác định các chiến lƣợc cần thực hiện, có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay là mục tiêu cụ thể nào đó cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị.
Có thể chia các mục tiêu kiểm soát của đơn vị cần thiết lập thành 3 nhóm: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả Luan van 8 của các hoạt động của cơ quan tổ chức bao gồm việc sử dụng nguồn lực, lập dự toán. - Nhóm mục tiêu về báo cáo: nhấn mạnh đến tính trung thực, kịp thời và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà đơn vị, tổ chức cung cấp. Mục tiêu này dựa trên những yêu cầu, kỳ vọng của đơn vị, tổ chức. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
Cho nên, mục tiêu này phụ thuộc chủ yếu cách thức tổ chức các hoạt động nằm trong sự kiểm soát của đơn vị, tổ chức. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát Theo COSO (2013) hệ thống kiểm soát bao gồm 5 yếu tố và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: a. Môi trường kiểm soát: Phản ánh “sắc thái” chung của một tổ chức tác động đến ý thức của mọi ngƣời trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trƣờng kiểm soát chịu sự ảnh hƣởng của văn hóa và lịch sử của tổ chức và ngƣợc lại nó ảnh hƣởng đến ý thức của tất cả nhân viên trong tổ chức đó.
Các đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu thƣờng có các nhân viên đủ năng lực, đƣợc huấn luyện, đào tạo quan điểm về tính trung thực và ý thức về việc kiểm soát. Quan điểm này do cấp quản lý thiết lập thông qua việc xây dựng và ban hành các chính sách hoạt động. Các nhân tố của môi trƣờng kiểm soát bao gồm: - Tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực làm việc của nhân viên trong tổ chức: Sự phát triển của một tổ chức luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên. Mỗi nhân viên là một chi tiết cấu thành nên bộ máy của tổ chức đó.
Vì vậy, tính trung thực và giá trị đạo đức của nhân viên cao sẽ tạo môi trƣờng thuận lợi để liên kết và phát huy sức mạnh tập thể giúp tổ chức hoàn thành kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu của mình. Đội ngũ nhân viên là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của tổ chức.