Phần mở đầu, Kết luận, Bảng chữ viết tắt và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về công tác văn thƣ, lƣu trữ và hoạt động của Chi cục Văn thƣ - Lƣu trữ Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động của Chi cục Văn thƣ - Lƣu trữ tỉnh Lào Cai Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện hoạt động của Chi cục Văn thƣ - Lƣu trữ tỉnh Lào Cai 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC VĂN THƢ, LƢU TRỮ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI CỤC VĂN THƢ - LƢU TRỮ 1.
Khái quát chung về công tác văn thƣ, lƣu trữ 1.1 Khái niệm Công tác văn thƣ là hoạt động liên quan đến văn bản, giấy tờ hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Ngay từ khi Cách mạng tháng tám thành công, Nhà nƣớc ta đã có những quy định cụ thể về công tác này. Lần đầu tiên công tác văn thƣ đƣợc đề cập một cách có hệ thống trong Nghị định 527- TTg ngày 02/11/1957 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Bản điều lệ quy định chế độ chung về công văn, giấy tờ ở các cơ quan. Tiếp đó, là Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác lƣu trữ, ban hành kèm theo Nghị định 142/CP năm 1963 của Chính phủ.
Theo quy định tại Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ, công tác văn thƣ bao gồm các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thƣ [12]. Một số thuật ngữ liên quan đến công tác văn thƣ đã đƣợc nêu trong Luật Lƣu trữ 2011, Thông tƣ 07/2012/TT-BNV ngày 22/11/2012 của Bộ Nội vụ nhƣ: Văn bản đi là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản sao văn bản, văn bản nội bộ và văn bản mật) do cơ quan, tổ chức phát hành [2]. Văn bản đến là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản fax, văn bản đƣợc chuyển qua mạng, văn bản mật) và đơn, thƣ gửi đến cơ quan, tổ chức [2]. Hồ sơ là một tập văn bản, tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tƣợng cụ thể hoặc có một (hoặc một số) đặc điểm chung 9 Luan van nhƣ tên loại văn bản; cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; thời gian hoặc những đặc điểm khác, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức hoặc của một cá nhân [47]; Lập hồ sơ là việc tập hợp và sắp xếp văn bản, tài liệu hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thành hồ sơ theo những nguyên tắc và phƣơng pháp nhất định [47].
Vị trí, vai trò của công tác văn thư Công tác văn thƣ đƣợc xác định là một hoạt động của bộ máy quản lý nói chung và là hoạt động không thể thiếu đƣợc trong mỗi cơ quan, tổ chức. Công tác văn thƣ có các vai trò sau: - Thứ nhất: Công tác văn thƣ đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý của các cơ quan. Trong hoạt động quản lý của các cơ quan, muốn đề ra chủ trƣơng, xây chƣơng trình, kế hoạch công tác hoặc giải quyết các công việc cụ thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao đều căn cứ vào các nguồn thông tin có liên quan mà nguồn thông tin chủ yếu nhất, chính xác nhất là thông tin từ văn bản. Với những văn bản chứa đựng nhiều thông tin khác nhau công tác văn thƣ là đầu mối cung cấp những thông tin, tƣ liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành thƣờng xuyên của cơ quan.
- Thứ hai: Công tác văn thƣ góp phần nâng cao hiệu suất và chất lƣợng công việc. Trong hoạt động của cơ quan, văn bản là căn cứ chủ yếu để giải quyết công việc, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao. Nếu các nội dung hoạt động của công tác văn thƣ nhƣ tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi giải quyết văn bản, soạn thảo, ban hành văn bản đặc biệt là công tác lập hồ sơ đƣợc làm tốt sẽ giúp cho quá trình xử lý, theo dõi, kiểm tra công việc một cách có hệ thống, qua đó cán bộ, công chức có thể đúc rút kinh nghiệm góp phần thực 10 Luan van hiện tốt các mục tiêu quản lý từ đó nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công việc của tổ chức, cá nhân - Thứ ba: Công tác văn thƣ góp phần làm giảm tệ quan liêu, giấy tờ. Tệ quan liêu giấy tờ thƣờng thấy ở những ngƣời làm công tác lãnh đạo nhƣng xa rời thực tế, chỉ xem báo cáo trên giấy, đại khái, không kiểm tra lại thông tin, ra quyết định quản lý không phù hợp với thực tiễn và không có khả năng thực thi.
Công tác văn thƣ với quy trình nghiệp vụ từ thu thập, xử lý thông tin đến việc soạn thảo, ban hành văn bản, quản lý văn bản các thông tin đƣợc chọn lọc kỹ sẽ giúp cho việc ra quyết định của ngƣời quản lý phù hợp, chính xác. - Thứ tƣ: Công tác văn thƣ đƣợc làm tốt góp phần giữ gìn bí mật nhà nƣớc, bí mật cơ quan. Mọi chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc kể cả chủ trƣơng mật, tối mật, tuyệt mật đều đƣợc phản ánh trong văn bản. “ Bí mật nhà nƣớc là những tin về vụ việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà nhà nƣớc không công bố hoặc chƣa công bố mà nếu bị lộ sẽ gây nguy hại cho Nhà nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [65].
Ngoài bí mật nhà nƣớc, mỗi cơ quan còn có thể có những bí mật riêng. Công tác văn thƣ gắn liền với việc bảo vệ bí mật nhà nƣớc, bí mật cơ quan bởi vì phần lớn các thông tin thuộc bí mật nhà nƣớc, bí mật cơ quan đều đƣợc văn bản hóa. Nếu việc bảo vệ công văn, tài liệu chứa đựng bí mật nhà nƣớc, bí mật cơ quan đƣợc thực hiện nghiêm túc, đúng quy định trong quy trình văn thƣ thì sẽ góp phần giữ gìn các thông tin trên không bị lộ ra ngoài. - Thứ năm là: Làm tốt công tác văn thƣ sẽ tạo thuận lợi cho công tác lƣu trữ.
11 Luan van Tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan ở giai đoạn văn thƣ sau khi giải quyết xong, đối với những tài liệu giá trị cần đƣợc lập hồ sơ và giao nộp vào Lƣu trữ cơ quan, đến thời hạn quy định những tài liệu có giá trị lịch sử đƣợc giao nộp vào Lƣu trữ lịch sử. Vì vậy tài liệu văn thƣ là nguồn bổ sung chủ yếu cho Lƣu trữ cơ quan và Lƣu trữ lịch sử. Để làm tốt công tác lƣu trữ thì cần làm tốt công tác văn thƣ. Khái niệm Công tác lƣu trữ là một lĩnh vực hoạt động của các cơ quan, tổ chức, bao gồm các công việc về thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lƣu trữ.
Một số thuật ngữ liên quan đến công tác lƣu trữ đã đƣợc nêu trong Luật Lƣu trữ 2011 nhƣ: Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử đƣợc lựa chọn để lƣu trữ. Tài liệu lƣu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trƣờng hợp không còn bản gốc, bản chính thì đƣợc thay thế bằng bản sao hợp pháp [47]. Lưu trữ cơ quan là tổ chức thực hiện hoạt động lƣu trữ đối với tài liệu lƣu trữ của cơ quan, tổ chức [47]. Lưu trữ lịch sử là cơ quan thực hiện hoạt động lƣu trữ đối với tài liệu lƣu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn đƣợc tiếp nhận từ Lƣu trữ cơ quan và từ các nguồn khác [47].
Phông lưu trữ là toàn bộ tài liệu lƣu trữ đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân [47]. Thu thập tài liệu là quá trình xác định nguồn tài liệu, lựa chọn, giao nhận tài liệu có giá trị để chuyển vào Lƣu trữ cơ quan, Lƣu trữ lịch sử [47]. 12 Luan van Chỉnh lý tài liệu là việc phân loại, xác định giá trị, sắp xếp, thống kê, lập công cụ tra cứu tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân [47]. Xác định giá trị tài liệu là việc đánh giá giá trị tài liệu theo những nguyên tắc, phƣơng pháp, tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền để xác định những tài liệu có giá trị lƣu trữ, thời hạn bảo quản và tài liệu hết giá trị [47].
Vị trí, vai trò của công tác lưu trữ Trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng công tác lƣu trữ, coi đó là một ngành hoạt động trong công tác quản lý nhà nƣớc, đồng thời là mắt xích không thể thiếu trong bộ máy quản lý nhà nƣớc của mình. Công tác lƣu trữ ra đời là một đòi hỏi khách quan trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Thứ nhất: Công tác lƣu trữ có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng thể chế hành chính nhà nƣớc, góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hệ thống thể chế hành chính. Việc khai thác thông tin phục vụ soạn thảo, ban hành văn bản quản lý nhà nƣớc có thể từ nhiều nguồn khác nhau nhƣng nguồn thông tin từ tài liệu lƣu trữ là quan trọng nhất vì tính chính xác, độ tin cậy cao, nhanh chóng, thuận lợi.
Dựa trên những thông tin tài liệu lƣu trữ có thể dự báo về xu hƣớng phát triển của vấn đề trong tƣơng lai, nhất là sự vận động của đối tƣợng chịu sự tác động của văn bản đang soạn thảo. Khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành văn bản pháp luật hiện hành cần phải nghiên cứu các văn bản của giai đoạn trƣớc để kế thừa phát huy giá trị tích cực, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực, những thiệt hại có thể xảy ra của văn bản mới. Nhƣ vậy quá trình thu thập thông tin từ tài liệu lƣu trữ phục vụ đắc lực cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế nền hành chính nhà nƣớc.