Chương 1: Tổng quan về hiệu quả tín dụng của Ngân hàng TMCP. Trình bày về: Lý luận chung về tín dụng; Hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP; Các nghiên cứu có liên quan; Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng TMCP; Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương - Chi nhánh 1. Trình bày về: Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh 1; Thực trạng hoạt động tín dụng và hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh 1; Đánh giá về thực trạng hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh 1. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh 1.
Trình bày về: Đinh hướng phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng; Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh 1; Một số kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Lý luận chung về tín dụng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo Ashish Kumar Srivastav (2018) Tín dụng ngân hàng thường được gọi là một khoản cho vay theo yêu cầu kinh doanh hoặc nhu cầu cá nhân cho khách hàng của mình, có hoặc không có bảo lãnh hoặc tài sản thế chấp, với kỳ vọng thu lãi định kỳ trên số tiền vay. Số tiền gốc được hoàn trả khi kết thúc thời hạn cho vay, theo thỏa thuận hợp lệ và được đề cập trong hợp đồng cho vay.
Theo Investopedia (2020) Tín dụng ngân hàng là tổng số tiền mà một người hoặc doanh nghiệp có thể vay từ một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác. Tín dụng ngân hàng của người đi vay phụ thuộc vào khả năng hoàn trả các khoản vay của họ và tổng số tín dụng mà tổ chức ngân hàng có thể cho vay. Các loại tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay mua ô tô, cho vay cá nhân và thế chấp. Đối với Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Thị Lan (2014) Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu.
Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2008) Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên. Như vậy, Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và những chủ thể khác như là doanh nghiệp hay một cá nhân. Vay với một lãi suất nhất 6 định đã được thỏa thuận trong hợp đồng và phải hoàn trả số tiền gốc khi kết thúc thời hạn cho vay.
Phân loại tín dụng và hình thức tín dụng ngân hàng Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng tốt nhất cho từng khách hàng của mình và mục tiêu quản lý của ngân hàng thương mại, thì có một số cách phân loại tín dụng như sau: Phân loại theo thời gian Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Loại cho vay này thường là những khoản vay để doanh nghiệp bổ sung vốn vào tài sản lưu động, vì tài sản lưu động thường có vòng quay thấp hơn 1 năm. Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại cho vay này thường là được tài trợ cho đầu tư vào cải tiến kỹ thuật hay các tài sản cố định như phương tiện sản xuất, vận tải,… Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên.
Loại cho vay này thường để tài trợ vào các dự án đầu tư. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn Tín dụng sản xuất kinh doanh: là loại tín dụng dành cho các tổ chức kinh tế sử dụng mục đích sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng thường dành cho các cá nhân đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống như mua sắm hay xây dựng nhà cửa, phương tiện sinh hoạt,… Phân loại theo tài sản đảm bảo Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng mà các khoản vay khi phát ra đều phải có cơ sở bảo đảm cho tài sản như thế chấp, cầm cố hay có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Loại tín dụng này phải có cam kết đảm bảo dựa trên yêu cầu ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng đảm bảo.
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng không cần phải có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Loại tín dụng này thường được cấp cho những khách hàng có mối quan hệ tốt và lâu dài với ngân hàng, uy tín cao và 7 khách hàng phải có tính hình tài chính vững mạnh, ít có những tình trạng nợ nần lâu trả hoặc các khoản vay được thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. Phân loại theo đối tƣợng tín dụng Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp để hình thành tài sản cố định của các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác. Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cấp để hình thành vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác.
Phân loại theo hình thức tín dụng Cho vay: là việc ngân hàng cấp một khoản tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất đã cam kết trong hợp đồng tín dụng đã kí. Chiết khấu thương phiếu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ). Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không có khả năng trả nợ. Cho thuê tài chính: là việc Ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định.
Sau khoảng thời gian nhất định đó, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Vai trò tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trƣờng Tín dụng Ngân hàng đáp ứng một số nguồn vốn cho nền kinh tế, tín dụng ngân hàng như là một người trung gian để điều hòa mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế thị trường. Thông qua các dịch vụ mà ngân hàng đã và đang cung cấp, ngân hàng đã thể hiện mình có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới. Hệ thống ngân hàng không những là một kênh huy động vốn chính mà còn là nơi có hiệu quả nhất trong việc đáp ứng nhu cầu bổ sung nguồn vốn của các doanh nghiệp và cá nhân.
8 Ngân hàng vừa là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các chủ thể kinh tế để thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu dùng phát triển, vừa đóng vai trò như một người thủ quỹ cho toàn xã hội trong việc đảm bảo an toàn các quỹ tiền tệ, giúp thanh toán thông suốt và góp phần tiết kiệm chi phí của toàn xã hội. Ngân hàng thương mại còn là cầu nối cho nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế. Trong xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, mỗi quốc gia phát triển nền kinh tế của chính mình luôn gắn liền với việc phát triển nền kinh tế thế giới. Với việc thông qua các hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, qua đại lý với các ngân hàng ở nước ngoài; hệ thống ngân hàng thương mại đã thực hiện được vai trò điều tiết của nền kinh tế tài chính quốc gia phù hợp với sự vận động của nền kinh tế tài chính quốc tế.2 Hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Hiệu quả tín dụng là một phạm trù vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính cụ thể phản ánh toàn bộ hoạt động tín dụng của NHTM qua đó nêu được vị trí quan trọng của tín dụng đối với nền kinh tế nói chung và NHTM nói riêng.
Khi hoạt động tín dụng của NH đạt hiệu quả càng cao thì kết quả tín dụng của NH đạt được càng lớn. Tuy nhiên, sản phẩm tín dụng của NH khác với những hoạt động sản xuất kinh doanh khác là NH bán sản phẩm tín dụng cho KH sẽ không nhận được kết quả ngay khi sản phẩm tín dụng được bán ra, mà nó là cả một quá trình lâu dài trong khi KH sử dụng sản phẩm dịch vụ của NH. Hiệu quả tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía, đó là Ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, hiệu quả tín dụng của Ngân hàng không những phụ thuộc vào chính bản thân nó mà còn phụ thuộc vào hiệu quả tín dụng của khách hàng.
Để có thể hiểu rõ hơn về hiệu quả tín dụng, ta sẽ xem xét sự thể hiện hiệu quả tín dụng trên các khía cạnh: 9 Đối với Ngân hàng: đem lại mục tiêu lợi ích kinh tế nhất định, đồng thời phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với năng lực của từng ngân hàng để đảm bảo hạn chế mức rủi ro tín dụng thấp nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với khách hàng: phù hợp với mục đích và nhu cầu sử dụng của khách hàng với quy mô, chi phí hợp lý, thủ tục đơn giản và thuận lợi để khách hàng có thể phát triển sản xuất kinh doanh hiệu quả và có nguồn trả nợ cho ngân hàng. Đối với kinh tế - xã hội: phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hóa góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình sản xuất và phát triển kinh tế ổn định. Trong luận văn này, hiệu quả hoạt động tín dụng sẽ được xem xét ở góc độ của NH.