Phần mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Logistics trong doanh nghiệp - Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động logistics tại Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Vũng Tàu - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện các hoạt động logistics tại Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Vũng Tàu Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về Logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy lạp - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy từ này còn đƣợc định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu đƣợc tiến hành đúng mục tiêu. Logistics chính là hoạt động quản lý dòng lƣu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay ngƣời tiêu dùng. Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng nhƣ phân phối hàng hoá một cách kịp thời (Just-in-Time). Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của “nguyên vật liệu, hàng ho á” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển “dịch vụ, thông tin”.
Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, ngƣời bán lẻ, ngƣời bán buôn… Ngày nay thuật ngữ logistics đã đƣợc phát triển, mở rộng và đƣợc hiểu với nghĩa là quản lý “management”. Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tuỳ thuộc góc độ tiếp cận, các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ nhƣ: logistics kinh doanh, logistics in bound – logistics out bound, phân phối vật c hất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật phân phối hay quản lý logistics…, đây đều là các thuật ngữ dùng để diễn tả cùng một chủ đề, đó là logistics. Ngày nay, có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: workplace logistics (logistics tại chỗ), facility logistics (logistics cơ sở sản xuất), corporate logistics (logistics công ty), supply chain logistics (logistics chuỗi cung ứng), global logistics (logistics toàn cầu). 1 Phạm vi và ảnh hƣởng Global Logistics Supply chain Logistics Corporate Logistics Facility Logistics Worplace Logistics 1950 1960 1970 1980 1990 2000 Hình 1.1:Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay - Logistics tại chỗ là dòng vận động của nguyên vật liệu tại một vị trí làm việc.
Mục đích của workplace logistics là hợp lý hoá các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp. Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của workplace logistics đƣợc đƣa ra cho những nhân công làm việc trong lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến tranh thế giới thứ II. Điểm nổi bật của workplace logistics là tính tổ chức lao động có khoa học. - Logistics cở sở sản xuất là dòng vận động của nguyên liệu giữa các xƣởng làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất.
Cơ sở sản xuất đó có thể là một nhà máy, một trạm làm việc trung chuyển, một nhà kho, hoặc một trung tâm phân phối.Một facility logistics đƣợc nói đến tƣơng tự nhƣ là một khâu để giải quyết các vấn đề đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất đại trà và dây chuyền lắp ráp máy móc (do máy móc không đồng nhất giữa những năm 1950 và 1960). - Logistics công ty là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa các cơ sở sản xuất và các quá trình sản xuất trong một công ty. Với công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, 2 với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình. Logistics công ty ra đời và chính thức đƣợc áp dụng trong kinh doanh vào những năm 1970.
Giai đoạn này, hoạt động logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối mang tính vật chất. Logistics kinh doanh trở thành quá trình mà mục tiêu chung là tạo ra và duy trì một chính sách dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phí logistics thấp. - Logistics chuỗi cung ứng phát triển vào những năm 1980, quan điểm này nhìn nhận logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xƣởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất. Đó là một mạng lƣới các cơ sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng…), các phƣơng tiện (xe tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển…) cùng với hệ thống thông tin đƣợc kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó.
Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hoá…) đƣợc liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng (Hình 1. Điểm nhấn trong chuỗi cung ứng là tính tƣơng tác và sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi thông qua 3 dòng liên kết: o Dòng thông tin: dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dịch chuyển của hàng hoá và chứng từ giữa ngƣời gửi và ngƣời nhận o Dòng sản phẩm: con đƣờng dịch chuyển của hàng hoá và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng đủ về số lƣợng và chất lƣợng o Dòng tài chính: chỉ dòng tiền bạc và chứng từ thanh toán giữa các khách hàng và nhà cung cấp, thể hiện hiệu quả kinh doanh. 3 Sản xuất Bán buôn Bán lẻ Khách hàng Dòng tiền tệ Dòng tiền tệ Dòng sản phẩm Dòng tiền tệ Dòng tiền tệ Dòng tiền tệ Dòng Dòng thông Dòng sản phẩm thông dÞch vô Hình 1.2:Vị trí của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics Tƣơng tự nhƣ trong thể thao, ở đây các hoạt động logistics đƣợc hiểu nhƣ là các trò Dòng sản phẩm dịch chơi trong đấu trƣờng chuỗi cung ứng. Hãy lấyvụ chuỗi cung ứng trong ngành máy tính làm ví dụ: đó là 1 chuỗi gồm có HP, Microsoft, Intel, CompUSA và nhiều công ty khác.
Không có ai trong số đó có thể hoặckiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng của ngành công nghiệp máy tính. Xét theo quan điểm này logistics đƣợc hiểu là "Quá trình tối ƣu hoá về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Trong chuỗi cung ứng, logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ƣu hoá vị trí của các nguồn tài nguyên.
Cấp độ thứ hai liên quan đến việc tối ƣu hoá các dòng vận động trong hệ thống. Trong thực tế, hệ thống logistics ở các quốc gia và các khu vực có nhiều điểm khác nhau nhƣng đều có điểm chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học và chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động nhƣ marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối…để đạt đƣợc mục tiêu phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay đây là khái niệm thích hợp có thể sử dụng. - Logistics toàn cầu là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền tệ giữa các quốc gia.
Nó liên kết các nhà cung ứng của các nhà cung ứng với 4 khách hàng của khách hàng trên toàn thế giới. Các dòng vận động của logistics toàn cầu đã tăng một cách đáng kể trong suốt những năm qua. Đó là do quá trình toàn cầu hoá trong nền kinh tế tri thức, việc mở rộng các khối thƣơng mại và việc mua bán qua mạng. Logistics toàn cầu phức tạp hơn nhiều so với logistics trong nƣớc bởi sự đa dạng phức tạp hơn trong luật chơi, đối thủ cạnh tranh, ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hoá, và những rào cản khác trong kinh doanh quốc tế.
Logistics thế hệ sau, có rất nhiều lý thuyết khác nhau về giai đoạn tiếp theo của logistics. Nhiều nhà kinh tế cho rằng: logistics hợp tác (collaborative logistics) sẽ là giai đoạn tiếp theo của lịch sử phát triển logistics. Đó là dạng logistics đƣợc xây dựng dựa trên 2 khía cạnh - không ngừng tối ƣu hoá thời gian thực hiện với việc liên kết giữa tất cả các thành phần tham gia trong chuỗi cung ứng. Một số quan điểm khác lại cho rằng: giai đoạn tiếp theo là logistics thƣơng mại điện tử (e- logistics) hay logistics đối tác thứ 4 (fourth-party logistics).
Đó là hình thức mà mọi hoạt động logistics sẽ đƣợc thực hiện bởi nhà các cung ứng logisticsthứ 3, ngƣời này sẽ bị kiểm soát bởi một “ông chủ” hay còn gọi là nhà cung ứng thứ 4, có quyền nhƣ là một tổng giám sát.2 Khái niệm về dịch vụ logistics Khác với thuật ngữ “logistics”, thuật ngữ “dịch vụ logistics” chƣa đƣợc đề cập nhiều đến trong các tài liệu trên thế giới. Ngƣợc lại, ở Việt Nam, khái niệm logistics lại không đƣợc bàn tới, Luật Thƣơng mại Việt Nam 2005 (Điều 233) chỉ đƣa ra khái niệm “dịch vụ logistics” nhƣ sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”. 5 Khái niệm này không có nhiều khác biệt so với ngƣời cung cấp dịch vụ vận tải đa phƣơng thức (Multimodal Transport Operator - MTO) bởi theo cách định nghĩa này logistics có bản chất là một hoạt động tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.Đồng thời, cụm từ “một hoặc nhiều công đoạn” dễ gây hiểu nhầm.
Vì nếu nhƣ một doanh nghiệp chỉ tham gia kinh doanh bất kỳ một trong các công việc trên (dịch vụ vận chuyển, lƣu kho, làm thủ tục hải quan…) thì trên nguyên tắc cũng đƣợc xem là kinh doanh dịch vụ logistics và phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh mà pháp luật đặt ra đối với việc kinh doanh dịch vụ logistics (mức vốn điều lệ 10 tỷ đồng đối với thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics).