CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ KH&CN. Vấn đề hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN ở huyện, thị liên quan tới một số khái niệm như: Hệ thống, quản lý, quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, hoạt động KH&CN, hoạt động quản lý KH&CN. Mỗi khái niệm trên đã có rất nhiều phân tích về nội hàm và ngoại diên, mặt khác trong khuôn khổ luận văn này có hạn, do đó luận văn sẽ đưa ra định nghĩa của khái niệm, đặt chúng trong một hệ thống các khái niệm để làm rõ khái niệm cơ bản của luận văn là "Hệ thống Quản lý KH&CN cấp huyện", và nhấn mạnh đến hiện trạng của hoạt động của hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện. Một số khái niệm cơ bản về Hệ thống, Quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về KH&CN.
Quan niệm về hệ thống. - Hệ thống không phải là khái niệm nguyên thủy, nghĩa là chúng ta có thể dùng những khái niệm đã biết để định nghĩa thế nào là hệ thống, nhưng hệ thống là khái niệm được nghiên cứu và ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nên việc nêu lên một định nghĩa hình thức hóa về hệ thống, có đủ tính khái quát để có thể áp dụng trong những lĩnh vực khác nhau là một việc vô cùng khó khăn. Vì lẽ đó và cũng để có thể thấy được hết những khía cạnh phức tạp và những vấn đề tinh tế trong quá trình xác định một hệ thống, thay vì định nghĩa hệ thống chúng ta mô tả hệ thống là một giải pháp thích hợp. Ta có thể xét hệ thống nhân tạo, nghĩa là một hệ thống do con người thiết kế và chế tạo ra, ví dụ một chiếc đồng hồ, một chiếc xe máy, hay một chiếc ti vi, thì định nghĩa sau đây là hoàn toàn thích hợp: " Hệ thống là tập hợp những phần tử liên kết với nhau một cách rất chặt chẽ thành một nhất thể, nhằm thực hiện được một số chức năng nhất 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
(Trang 5; Lý thuyết hệ thống và điều khiển học của PGS. Nguyễn Địch; Viện đại học Mở Hà Nội). Còn trong hệ thống quản lý, chẳng hạn như hệ thống các cơ quan hành chính của nước ta có 4 cấp: Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố, UBND huyện và quận, UBND xã, phường. Trong khoa học quản lý vấn đề phân cấp luôn là vấn đề phức tạp.
Sự phân cấp chồng chéo sẽ làm cho hệ thống con trong quá trình vận hành sẽ dẫm đạp lên nhau, cản trở lẫn nhau gây nên những rối loạn trong quản lý, sự phân cấp hợp lý cùng với việc tổ chức bộ máy thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của hệ thống quản lý. Các yếu tố tạo nên hệ thống như các phần tử, hệ thống con, sự liên kết giữa các phần tử và một số vấn đề liên quan cũng là những khái niệm rất tinh tế, đa dạng và phức tạp không kém gì khái niệm về hệ thống, do đó để tránh những suy diễn lệch lạc có thể dẫn đến những nhận định sai lầm trong quá trình nghiên cứu, chúng ta cần tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc mà ta gọi là những nguyên lý tiếp cận hệ thống. Như trên đã nói Hệ thống là một khái niệm rất tinh tế, đa dạng, phức tạp và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu cụ thể, người ta lựa chọn một định nghĩa thích hợp về hệ thống, lược bỏ đi một số khía cạnh không có ý nghĩa hoặc không có ảnh hưởng lớn đến vấn đề nghiên cứu giúp cho việc trình bày và suy luận dễ dàng hơn và sáng sủa hơn.
- Khái niệm Hệ thống theo PGS. Vũ Cao Đàm, Trường đại học KHXN&NV Hà Nội: " Hệ thống là tập hợp các phần tử có liên hệ tương tác trong một môi trường xác định nhằm thực hiện một mục tiêu (Hoặc một số mục tiêu) đã định trước". 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về quản lý.
Một số quan niệm về quản lý. Có thể nói tư tưởng về quản lý đã xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, tuy nhiên khoa học quản lý với tư cách là một khoa học độc lập, một hệ thống tri thức về quản lý thì chỉ mới ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. - Học thuyết quản lý khoa học theo (Frederick Winslow Taylor, 1856 - 1915), Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó, hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. - Theo Thuyết quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841 - 1925), Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm tra.
- Theo Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886 - 1961), Quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định; nó có tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ chức. - Theo các thuyết văn hoá quản lý (từ cuối những năm 70), quản lý không những là việc tạo ra cơ cấu và công nghệ, mà còn là việc sáng tạo ra những biểu tượng, hệ tư tưởng, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghi lễ và những huyền thoại. Khái niệm về quản lý: Từ các điểm chung nhất của các cách tìm hiểu khác nhau về quản lý như đã nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý: - Chủ thể quản lý là trả lời câu hỏi: Do tổ chức nào? do ai quản lý? - Đối tượng quản lý (Khách thể quản lý) là: Quản lý tổ chức nào? quản lý ai? quản lý cái gì? - Mục đích quản lý là: Quản lý vì cái gì? nhằm đạt mục đích gì? hiệu quả kinh tế-xã hội như thế nào? - Môi trường và điều kiện quản lý là: Quản lý trong điều kiện, hoàn cảnh nào? (không gian, thời gian, địa điểm, phạm vi.); Hệ thống cơ chế, chính sách? - Phương tiện quản lý là: Sử dụng các công cụ, phương tiện gì để quản lý? Hình 1: Sơ đồ lôgic của khái niệm quản lý b) Bản chất của quản lý: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói quản lý là một loại hình lao động đặc biệt, là siêu lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình lao động cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực, từ đó tạo nên một sức mạnh chung của một tổ chức.
Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tương đối và mang những đặc trưng riêng của nó. Chúng ta biết rằng, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển thông qua hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Bất kỳ hoạt động nào cũng được tiến hành theo quy trình: Chủ thể (con người có ý thức) sử dụng những công cụ, phương tiện và các cách thức nhất định để tác động và đối tượng (tự nhiên, xã hội và tư duy) trong một môi trường nhất định, ở một phạm vi không gian và thời gian nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu xác định với hiệu quả mong muốn. Tính đặc thù của hoạt động quản lý so với hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện trên tất cả các phương diện: chủ thể, đối tượng, công cụ, phương tiện, cách thức tác động và mục tiêu.
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất vật chất có ý nghĩa tương đối và chỉ tồn tại trong lĩnh vực nhận thức. Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động chung của con người và vì vậy, nó là hoạt động mang tính phổ quát. Từ những nhận định ở trên, kế thừa những nhân tố hợp lý của các tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có thể hiểu về quản lý, đó là các tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến đổi của môi trường. Như vậy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau: + Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người. + Quản lý là tác động có ý thức. + Quản lý là tác động bằng quyền lực. + Quản lý là tác động theo quy trình (Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra.
+ Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực. + Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung. + Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Hình 2: Sơ đồ đặc trưng cơ bản của quản lý c) Vai trò của quản lý: Có thể nói quản lý có các vai trò như sau: - Một là: Vai trò định hướng: Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu hiện chủ yếu thông qua chức năng lập kế hoạch.
- Hai là: Vai trò thiết kế: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vai trò thiết kế liên quan tới các nội dung: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác. Thực hiện tốt những nội dung này là tiền đề và điều kiện đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động quản lý. - Ba là: Vai trò duy trì và thúc đẩy: Vì là có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) nên bắt buộc chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và thẩm quyền của họ làm ổn định, bền vững một tổ chức. Mặt khác, thông qua hệ thống chính sách về nhân lực, tài lực, tin lực phù hợp và phong cách quản lý, lãnh đạo hợp lý, đã tạo ra động cơ thúc đẩy phát huy cao nhất năng lực của người lao động và tạo điều kiện cho họ khả năng sáng tạo cao nhất.
- Thứ tư là: Vai trò điều chỉnh: Thông qua chức năng kiểm tra, giám sát mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều chỉnh của nó.