Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO SINH VIÊN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm “khoa học và công nghệ” và “chính sách khoa học và công nghệ” - Khái niệm “khoa học và công nghệ” Thuật ngữ “khoa học” có nhiều cách hiểu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tùy theo mục đích sử dụng khoa học có nhi ều cách tiếp cận. Khái niệm khoa học có một số cách tiếp cận như sau: Từ điển online “MacMillan English Dictionary for Advanced Learners” đã định nghĩa: “Khoa học là nghiên cứu và tri thức về thế giới vật lý và hành vi của nó được dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện đ ược ki ểm ch ứng và được tổ chức thành hệ thống” [49].
Trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của tác giả Vũ Cao Đàm viết: “Khoa học là một hệ thống tri thức, bao gồm: Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Khoa học là một hình thái ý th ức xã h ội. Khoa học là một thiết chế xã hội. Khoa học là một hoạt đ ộng xã h ội ” [46, tr.
Theo “Luật KH&CN” (2013): “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Để tiếp cận rõ nét với khái niệm KH&CN, tác giả đưa ra một số định nghĩa về thuật ngữ “công nghệ”. Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra khái niệm: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng.
Các tài liệu nghiên cứu của tác giả Vũ Cao Đàm đưa ra 3 khái niệm về công nghệ: Khái niệm 1: “Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất thông tin Khái niệm 2: “Công nghệ là một phương tiện (device) chế bi ến v ật chất thông tin, gồm: Phần cứng và Phần mềm”. Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghệ là một cơ thể (hệ thống) tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin về phương ti ện và phương pháp chế biến vật chất và hoặc thông tin. Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware)” [45, tr. Cũng như ở khái niệm khoa học, trong phần này tác gi ả cũng s ử dụng khái niệm công nghệ theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật KH&CN (năm 2013): “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo các công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm có độ tin cậy”[42, tr.
Mối quan hệ giữa KH&CN: KH&CN có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên h ệ ch ặt chẽ này th ể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thu ật và s ản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất. Vậy KH&CN là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương ti ện ph ục v ụ cho sản xuất và các hoạt động khác. - Khái niệm “chính sách KH&CN” Chính sách (hay còn gọi là chính sách công) là vấn đề quan tr ọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã h ội của m ỗi qu ốc gia cũng như với từng địa phương cụ thể.
Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các v ấn đ ề kinh t ế - xã h ội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Việc xây dựng, hoạch định chính sách, công bố chính sách tới người dân, thực thi như thế nào liên quan nhiều tới công tác TTCS. Dựa vào “Luật KH&CN” (2013), tác giả cũng đưa ra khái niệm về hoạt động KH&CN “Là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công ngh ệ, d ịch v ụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát tri ển KH&CN” [42, tr. Vì vậy, chính sách KH&CN là những tập hợp quyết định chính trị liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu khoa học, triển khai và ứng dụng công nghệ, sở hữu trí tuệ.
Từ đó, lĩnh vực KH&CN có những quy chuẩn thực thi, gi ải pháp để phát triển năng lực khoa học và công nghệ quốc gia trong t ừng thời kỳ. Khái niệm “truyền thông chính sách”, “báo điện t ử”, “sinh viên” - Khái niệm “truyền thông chính sách” Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông” do tác giả Dương Xuân Sơn chủ biên đã đưa ra khái niệm: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng, nhằm tạo s ự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nh ận th ức ” [21, tr. Trong đó bao gồm các yếu tố chính là nguồn phát, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi, nhiễu, hiệu quả truyền thông. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” [23, tr.
Tác giả Hà Thị Thùy Dương trong bài nghiên cứu “Vai trò của truyền thông với quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách ” định nghĩa “Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành đ ộng, bao g ồm các mục tiêu muốn đạt được và cách thức thực hiện các mục tiêu đó. Hiện nay còn nhiều cách định nghĩa chính nhưng thường có các điểm chung: + Chính sách là những hành động có mục đích, hay nói cách khác, chính sách cần phải có mục đích rõ ràng; + Chính sách phải tác động vào những đối tượng cụ thể, hay nói cách khác phải chỉ rõ đối tượng tiếp nhận hoặc hưởng lợi. + Chính sách có vai trò quan trọng đối với s ự phát tri ển xã h ội” [34, tr. Trong cuốn “Truyền thông chính sách: Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc”, từ bài viết “TTCS: Từ lý luận đến thực tiễn” của tác giả Trương Ngọc Nam định nghĩa:“TTCS (chính sách công) là chủ đề quan trọng về lý luận và thực tiễn, gắn liền với năng lực điều hành vĩ mô cũng như hiệu lực, hiệu quả của hoạt động chính phủ.
Là quá trình quảng bá, phổ bi ến, thông tin v ề chính sách đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông. Truyền thông tham gia vào tất cả các khâ u trong quá trình chính sách. Tại bài viết “TTCS công tạo đồng thuận xã hội: Vai trò giám sát - phản biện xã hội của báo chí và dư luận xã hội ”, tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “TTCS là quá trình liên tục. TTCS chia làm bốn giai đo ạn, g ồm truy ền thông tham gia ngay từ đầu trong việc khởi phát vấn đ ề có th ể c ần chính sách can thiệp; báo chí truyền thông thực hiện phương thức cung cấp thông tin, kiến thức., từ đó lấy ý kiến, tổ chức phản biện xã hội và hình thành các luồng ý kiến góp phần hoàn thiện chính sách; sau khi chính sách được quyết định ban hành, báo chí truyền thông vào cuộc thực hiện chi ến d ịch tuyên truyền, giáo dục, cung cấp thông tin…” [34, tr.
Tóm lại, TTCS là quá trình chủ thể hoạch định, xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách thông qua phương thức, phương tiện truy ền thông chia sẻ, tương tác xã hội đến công chúng nhằm tăng cường s ự hi ểu bi ết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách hay gi ải quy ết vấn đề liên quan đến lợi ích cộng đồng, nhóm xã hội lớn để đ ạt mục tiêu chính sách, tạo sự đồng thuận. Truyền thông tham gia vào mỗi khâu của chu trình chính sách KH&CN để đảm bảo chính sách nhận được sự đồng thuận xã hội, mặt khác giúp chính sách KH&CN hoàn thiện hơn. - Khâu hoạch định chính sách, TTCS giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội. N ội dung truy ền thông là phổ biến kiến thức và vấn đề chính sách, cần làm rõ nguyên nhân mức độ của vấn đề chính sách.
- Khâu xây dựng chính sách, TTCS tập trung vào truyền thông và vận động xã hội, nhận thức về chính sách để lựa chọn, dẫn đến sự đồng thuận rộng lớn cho thực hiện chính sách. - Khâu đánh giá chính sách, thông tin về kết quả th ực hiện chính sách, từ việc đánh giá chính sách, cũng đồng thời là quá trình cung cấp kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm trong cộng đồng xã hội, khu v ực và trên phạm vi toàn cầu về một chính sách nào đó. - Khái niệm “báo điện tử” Trên thế giới, báo điện tử có nhiều tên gọi khác nhau như: online newpaper (báo chí trên mạng/ trực tuyến), e- journal (electronic journal- báo chí điện tử), e- zine (electronic magazine- tạp chí điện t ử)… Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo điện tử” lần đầu tiên được ghi rõ trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước năm 1999. Cụ thể, tại Điều 3 Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung của một số điều của Luật Báo chí năm 1999 ghi rõ “Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) ” [39].
Đến năm 2016, Luật Báo chí (sửa đổi) quy định tại Khoản 6, Đi ều 3 nh ư sau: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” [43, tr. Theo tác giả Nguyễn Sơn Minh (Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Báo chí học - 2016) định nghĩa: “ Báo điện tử là một hệ thống truyền thông đa phương tiện, sử dụng nền tảng internet để thực hiện các chức năng báo chí” [28, tr. Tuy nhiên, báo điện tử hiện nay ngoài việc sử dụng ch ữ viết, hình ảnh, âm thanh mà còn sử dụng đồ họa để đặc tả về một sự kiện, vấn đề nào đó nhằm thông tin cụ thể, dễ hiểu, dễ xem hơn cho công chúng báo chí.