CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1. Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu được nhắc đến là đối tượng nghiên cứu trong hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Ví dụ: nhu cầu về ăn uống, nhà cửa, môi trường lao động, môi trường sống, … Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi con người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thỏa mãn, bù đắp (Philip Kotler, 2013). Nhu cầu có thể được chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu về vật chất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người như nhu cầu về nhà ở, nhu cầu về thăng tiến trong công việc.
Nhu cầu về tinh thần gắn liền với sự hài lòng, thỏa mãn về tâm lý như nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được giao tiếp. Đối với công tác quản trị, việc hiểu đúng được nhu cầu của NLĐ là một trong những yếu tố quan trọng. Các nhà quản trị có thể đưa ra các giải pháp thỏa mãn nhu cầu của NLĐ là một trong những cách tạo động lực cho NLĐ. Động lực Động lực là yếu tố được nhắc đến ở hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống.
Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi động lực của NLĐ là gì. Hiện nay, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. Từ góc độ tâm lý học, động lực làm việc có thể được hiểu rằng là thứ mà thúc đẩy hành động, gắn với việc thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, là yếu tố thúc đẩy cá nhân tích cực lao động để đạt được những mục tiệc nhất định. 4 Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng Bên cạnh đó, từ góc độ quản trị thì động lực làm việc chính là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy khả năng của bản thân để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức.
Theo quan điểm của Frederic Herzber (1959): “Động lực là việc làm sự khao khát và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Như vậy, động lực xuất phát từ chính bản thân của mỗi người, cung cấp sinh lực, hướng con người vào những hành vi có mục đích. Ở mỗi cá nhân thì có những quan điểm sống, nhu cầu hay mục tiêu khác nhau nên động lực của mỗi người là khác nhau. Động lực cũng thường xuyên biến đổi theo từng giai đoạn, mục tiêu khác nhau trong cuộc đời.
Tại thời điểm này, một NLĐ có thể có động lực rất lớn trong công việc, tuy nhiên có thể trong giai đoạn khác của cuộc đời thì điểu này không còn nữa. Động lực trong lao động Trong thời kì hiện nay, để có thể xây dựng một doanh nghiệp, tổ chức vững mạnh thì yếu tố tạo động lực, thỏa mãn nhu cầu của NLĐ được các nhà quản lý rất chú trọng. Như vậy: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân NLĐ.
Để có thể tạo ra được động lực cho NLĐ, nhà quản lý cần phải tìm hiểu các động cơ thúc đẩy NLĐ làm việc tích cực. Hệ thống các động cơ chính của NLĐ bao gồm: - Động cơ thu nhập: đây là động cơ quan trọng nhất khiến NLĐ bởi thu nhập giúp NLĐ trang trải cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Đây là động cơ cơ bản nhất. 5 Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng - Động cơ phát triển cá nhân: sau khi NLĐ có thể đảm bảo được cuộc sống của bản thân, thì NLĐ có nhu cầu phát triển, nâng cao bản thân thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội.
- Động cơ thỏa mãn các hoạt động xã hội: là nhu cầu được tham gia và các hoạt động xã hội để tự khẳng định bản thân mình. Khi hai động lực bên trên được đáp ứng, thì các nhu cầu về các hoạt động xã hội mới được NLĐ chú trọng quan tâm hơn. Do đó, mục tiêu chính là vấn đề quan trọng nhất của động lực. Điều quan trọng của nhà quản lý là đề ra được các mục tiêu phù hợp với nhu cầu của NLĐ, kích thích NLĐ làm việc nhằm hướng tới các mục tiêu phù hợp với bản thân.
Tạo động lực lao động cho NLĐ có thể cải thiện chất lượng, năng suất, tinh thần làm việc của NLĐ, kéo theo đó là sự phát triển của tổ chức. Sự cần thiết của tạo động lực Trước mắt, động lực mang lại nhiều lợi ích cho NLĐ, cho doanh nghiệp tổ chức. Bên cạnh đó, động lực cũng gián tiếp góp phần vào sự phát triển của xã hội: 1. Đối với NLĐ - Làm tăng năng suất, hiệu quả trong lao động: Không chỉ trong công việc, khi con người yêu thích một công việc, hành động nào đó, họ sẽ làm việc hăng say, dồn nhiều tâm chí và công sức.
Từ đó giúp tăng năng suất, hiệu quả của lao động mỗi cá nhân. Một khi năng suất và hiệu quả tăng sẽ kéo theo thu nhập của NLĐ sẽ được cải thiện. - Tăng tinh thần đoàn kết, gắn bó với tổ chức: khi cảm nhận được sự tôn trọng, sự yêu thích và cảm nhận được nhiệt huyết trong công việc sẽ hình thành sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. - Tính sáng tạo: Khi thực sự yêu thích một công việc, nếu gặp khó khăn, họ sẽ cảm thấy thoải mái trong vấn đề tiếp tục tiềm kiếm các giải pháp.
- Khi được tạo động lực, họ sẽ cảm thấy công sức mình bỏ ra là xứng đáng với những gì đáng được nhận. Qua đó, cho họ cảm thấy ý nghĩa trong công việc, tổ chức và tiếp tục cố gắng hoàn thiện bản thân. 6 Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng 1. Đối với tổ chức - Tạo động lực cho NLĐ giúp tổ chức có thể tận dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có và có thể thu hút thêm nhân lực từ bên ngoài.
- Với sự nỗ lực của NLĐ trong quá trình làm việc khiến công việc được tăng năng suất và hiệu quả, mang lại những lợi ích rõ rệt cho cả cá nhân và tổ chức. - Tạo nên bầu không khí, môi trường làm việc thoải mái, hăng say, tinh thần sẵn sàng chia sẻ, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao uy tín và hình ảnh của Công ty. Đối với xã hội - Động lực lao động thúc đẩy các cá nhân cùng đi lên, phát triển bản thân, nỗ lực để đạt được mục tiêu, mục đích của cuộc đời mình. Từ đó thúc đẩy xã hội cùng đi lên phát triển.
- Tạo nên một xã hội tích cực, nơi mọi người có những mục tiêu nhất định, tạo nên một cộng đồng giàu mạnh về cả thể chất và tinh thần. Một xã hội phát triển vững mạnh khi các cá nhân, tổ chức cùng nhau phát triển, cùng hướng tới những mục tiêu xa hơn. MỘT SỐ HỌC THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham (Harold) Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ.
Ông được cả thế giới biết đến qua mô hình nổi tiếng Tháp nhu cầu và được coi là cha đẻ của tâm lý học nhân văn. Khi nghiên cứu về tạo động lực trong lao động, Maslow tin rằng NLĐ có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn. Ông chia hệ thống nhu cầu của con người ra là 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: 7 Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng Hình 1. 1: Hệ thống nhu cầu của Maslow - Nhu cầu sinh lý: Trong năm loại nhu cầu của Maslow, nhu cầu sinh lý được coi là nhu cầu thấp nhất và đây cũng là nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản để duy trì của sống như ăn uống, ngủ nghỉ… Đây được coi là nhu cầu cơ bản nhất bởi vì nếu không thỏa mãn được nhu cầu về sinh lý, thì những nhu cầu khác sẽ không thể tiến thêm nữa. - Nhu cầu về an toàn: Ngay sau nhu cầu về sinh lý của một người được thỏa mãn, nhu cầu an toàn của họ được ưu tiên và chi phối hành vi. Nhu cầu về an toàn có thể kể ra như: An ninh cá nhân, An ninh tài chính, An toàn môi trường lao động, An toàn nghề nghiệp… - Nhu cầu xã hội: Sau khi đã đáp ứng các nhu cầu về sinh lý và an toàn, mức độ thứ ba của nhu cầu con người nằm giữa các cá nhân và gồm các cảm giác cần thuộc về. Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được yêu thương… - Nhu cầu được tôn trọng: Bao gồm nhu cầu được người khác tôn trọng và lòng tự trọng.
- Nhu cầu khẳng định bản thân: Sau khi bốn nhu cầu phía trên được đáp ứng và thỏa mãn một cách thỏa đáng, mọi người lúc này tập trung vào việc nhận ra tiềm năng của bản thân và muốn phát triển. Điển hình có thể kể ra một vài nhu cầu điển hình như: nhu cầu được trưởng thành, phát triển, thăng tiến. Tóm lại, theo Abraham Maslow, sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân được bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản nhất, thỏa mãn được nhu cầu dưới thì mới có sự xuất hiện những nhu cầu phía trên. Nhà quản lý muốn tạo động lực cho NLĐ cần chú trọng đến việc NLĐ đang ở mức độ nào trên tháp nhu cầu, từ đó có thể xác định 8 Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng chính xác nhu cầu của NLĐ sau đó là có định hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu đó cho chính xác và hiệu quả.
Học thuyết công bằng của John Stacy Adams Thuyết công bằng là một học thuyết về tạo động lực cho NLĐ do John Stacy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1963.