mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản suất của nền kinh tế. Quá trình đầu tƣ phải trải qua một thời gian lao động dài mới có thể đƣa vào sử dụng đƣợc và đặc biệt đối với đầu tƣ 15 van công từ nguồn vốn NSNN thì thời gian hoàn vốn lâu và đáp ứng mục tiêu xã hội là chủ yếu. Một dự án đầu tƣ là một thực thể độc lập trong môi trƣờng xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm. Đồng thời, dự án khi triển khai thực hiện đƣợc xác định rõ ràng về mục tiêu, nguồn lực, thời gian khởi công hoàn thành, cơ cấu, chất lƣợng nhất định và hiệu quả mang lại.
Do vậy, nguồn vốn đầu tƣ công từ nguồn vốn NSNN bố trí thực hiện dự án đó có tính thống nhất và tính xác định cao [1]. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tƣ công từ nguồn vốn NSNN, do thời gian kéo dài nên các yếu tố chính trị, kinh tế và tự nhiên can thiệp sẽ ảnh hƣởng trực tiếp và thậm chí gây ra những tổn thất mà những nhà đầu tƣ không lƣợng định hết khi lập dự án. Do vậy, vốn đầu tƣ phát sinh so với dự toán ban đầu là điều tất yếu [1]. Sản phẩm của đầu tƣ công từ nguồn vốn NSNN là cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, giao thông, bến bãi… có tính cố định gắn liền với đất đai.
Vì thế trƣớc khi quyết định đầu tƣ dự án từ nguồn vốn này phải đƣợc quy hoạch cụ thể, khi triển khai thực hiện thƣờng gặp khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng [1]. Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tƣ công từ nguồn vốn NSNN bị tách rời, nguồn vốn này thuộc quyền sở hữu cả Nhà nƣớc. Trong khi đó quyền sử dụng lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tƣ, các ban quản lý dự án. Từ đặc điểm này mà nguồn vốn đầu tƣ công từ nguồn NSNN dễ bị thất thoát nếu chủ đầu tƣ, ban quản lý dự án không ngừng nâng cao trách nhiệm, trình độ quản lý đáp ứng yêu cầu quản lý, tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt [1].
Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công Năng lực của cơ quan nhà nƣớc: Đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt đƣợc của dự án. Để dự án đạt đƣợc kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu tƣ công và quản lý đầu tƣ công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lƣợng và chất lƣợng (sự hiểu biết, trình độ, nhân lực). Phải bảo đảm những ngƣời phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng nhu cầu của dự án. 16 van Kinh phí: Đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó.
Đối với hoạt động đầu tƣ công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải đƣợc quan tâm chặt chẽ. Nguồn kinh phí đầu tƣ công chủ yếu là từ NSNN. Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên việc đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt động đầu tƣ diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng. Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: Việc thực hiện đầu tƣ công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách.
Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối ƣu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án đƣợc thuận lợi. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hƣớng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển KTXH. Bối cảnh thực tế: các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị, tiến bộ khoa học – công nghệ… đều có ảnh hƣởng đến hoạt động, kết quả đạt đƣợc của dự án đầu tƣ. Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngƣng không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp.
Công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án. Các dự án công bị ngƣời dân phản đối, ngăn chặn từ khâu giải phóng mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau. Bên cạnh đó, mỗi dự án đƣợc thực hiện sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tƣợng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận đƣợc sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tƣợng tƣơng ứng.2 QUẢN LÝ ĐẦU TƢ CÔNG TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Khái niệm Quản lý đầu tƣ công Hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam đƣợc quản lý theo quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Trong đó, liên quan trực tiếp tới quản lý đầu tƣ công là các Luật: Đấu thầu, Đầu tƣ, Xây dựng, các nghị định hƣớng dẫn thi hành các luật 17 van nêu trên và một số nghị định khác của Chính phủ.
Ngoài ra, quản lý đầu tƣ công còn liên quan tới nhiều luật nhƣ: Đất đai, Bảo vệ môi trƣờng, Khoáng sản, Dầu khí, Thuế thu nhập doanh nghiệp… và các hệ thống văn bản hƣớng dẫn các luật này. Quản lý đầu tƣ chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng quá trình đầu tƣ (bao gồm công tác quản lý quy hoạch, thực hiện đầu tƣ và vận hành kết quả đầu tƣ cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tƣ tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt đƣợc hiện quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tƣ nói riêng [1]. Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Quản lý đầu tƣ công là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hƣớng lớn trong chính sách đầu tƣ công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tƣ cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tƣ công, qua đó đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng và phát triển chung của nền kinh tế. Quản lý đầu tƣ công là quá trình quản lý từ khâu phê duyệt chủ trƣơng đầu tƣ.
Phê duyệt chƣơng trình, dự án, lập kế hoạch đầu tƣ, xác định danh mục chƣơng trình, dự án đầu tƣ, triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra đánh giá, thanh tra các chƣơng trình, dự án đầu tƣ công và kế hoạch đầu tƣ công. Nhƣ vậy, quản lý đầu tƣ công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tƣ thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngƣời đại diện sở hữu nhà nƣớc trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hƣởng tiêu cực của các dự án. Kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tƣợng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nƣớc nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nƣớc. Quy trình quản lý đầu tƣ công bao gồm tám nội dung cụ thể nhƣ sau: 1) Định hƣớng đầu tƣ; 2) Lập, thẩm định và phê duyệt chủ trƣơng đầu tƣ; 3) Lập, thẩm định và phê duyệt dự án; 4) Lựa chọn và lập kế hoạch ngân sách dự án; 5) Triển khai dự án; 6) Điều chỉnh dự án; 7) Vận hành dự án; 8) Đánh giá và kiểm toán sau khi hoàn thành dự án [2].
18 van Cơ quan chuyên môn quản lý đầu tƣ công là đơn vị có chức năng quản lý đầu tƣ công thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ; đơn vị đƣợc giao quản lý đầu tƣ công của bộ, cơ quan trung ƣơng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan, tổ chức khác đƣợc giao kế hoạch đầu tƣ công; Sở Kế hoạch và Đầu tƣ; phòng, ban có chức năng quản lý đầu tƣ công thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; Cơ quan quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ công bao gồm Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Ủy ban nhân dân các cấp [2]. Nguyên tắc và phân cấp về quản lý đầu tƣ công từ nguồn vốn Ngân sách nhà nƣớc cấp tỉnh 1. Nguyên tắc cơ bản trong quản lý đầu tư công Phù hợp với mục tiêu quản lý đó chính là thống nhất giữa tính chính trị, kinh tế kết hợp hài hòa, hợp lý về mặt xã hội.Đảm bảo tính công khai, minh bạch theo quy định, phù hợp yêu cầu cải cách hành chính và tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc. Đảm bảo quản lý theo ngành và theo lãnh thổ [1].
Đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải đƣợc đảm bảo bằng pháp luật. Nguyên tắc này không cho phép các cơ quan Nhà nƣớc thực hiện việc quản lý dự án đầu tƣ công một cách tùy tiện, chủ quan mà phải dựa vào pháp luật, làm đúng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.Đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả [1]. Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nƣớc và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Phân cấp theo quy mô, đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình quản lý đầu tƣ công ở Việt nam.
Cụ thể là mức độ phân cấp đối với các chức năng và nhiệm vụ quản lý đầu tƣ công thƣờng phụ thuộc vào quy mô và tầm quan trọng của dự án, đƣợc chia thành các dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, nhóm B, và nhóm C [1]. Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động đầu tƣ công. Các dự án đầu tƣ công liên quan đến nguồn tài chính. Theo đó, chính quyền cấp tỉnh đƣợc quyền tự quyết gần nhƣ hoàn toàn đối với các dự án đầu tƣ từ ngân sách địa phƣơng (nguồn vốn đầu tƣ cân đối theo tiêu chí, nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, nguồn thu XSKT, các khoản tăng thu, tiết kiệm chi…)[1] 19 van 1.