Chương 1. Cơ sở luận lý luận về tổ chức công tác kế toán của ngân hàng thương mại. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tỉnh Hà Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tỉnh Hà Nam 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LUẬN LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2017) thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác. NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Ngân hàng là một doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu và tổng tài sản lớn, có mạng lưới các chi nhánh rộng khắp cả nước, theo quy định của Việt Nam hiện nay thì ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu là ba nghìn tỷ đồng. Tuy có vốn chủ sở hữu lớn nhưng vốn của ngân hàng lại chủ yếu có được từ nợ phải trả huy động được từ các cá nhân, tổ chức bên ngoài ngân hàng, nên hoạt động của ngân hàng thương mại cũng có rủi ro cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác, một phần do hệ số nợ cao, một phần do các nghiệp vụ của ngân hàng đa dạng, phong phú và có tính chất phức tạp.
Cũng vì là loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên ngân hàng thương mại chịu sự quản lý chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại - Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn và cấu trúc tài sản đặc biệt Về khía cạnh vốn chủ sở hữu và tổng tài sản thì NHTM là loại hình DN lớn. Vốn chủ sở hữu của các NHTM ở Việt Nam đều là hàng nghìn tỷ đồng, với mạng lưới chi nhánh rộng khắp và trải dài khắp các tỉnh thành trên cả nước. Ngân hàng có vốn chủ sở hữu rất lớn nhưng nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng lại đến từ hoạt động huy động vốn của các đối tượng bên ngoài ngân hàng.
Tài sản của ngân hàng 9 thì chủ yếu là các tài sản tài chính, và ngân hàng thường có xu hướng liên tục phát triển sản phẩm, công cụ tài chính mới. - Hoạt động của NHTM có rủi ro cao và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của pháp luật. NHTM có hệ số nợ cao, hơn nữa nguồn vốn nợ này lại đến từ tiền gửi của khách hàng với đặc điểm có thể rút trước hạn, vì vậy hoạt động của ngân hàng có rủi ro cao, hơn nữa rủi ro này rất đa dạng và có tính lan tỏa cao. Rủi ro trong hoạt động của NHTM bao gồm các loại rủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,… NHTM là DN có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, rủi ro cao, và hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến hoạt đông chung của toàn nền kinh tế.
Do vậy mà hoạt động của ngân hàng chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ phía Nhà nước. Các quy định áp dụng đối với NHTM được thể hiện trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo NH, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,… - Tính liên kết và ổn định của hệ thống NHTM Hệ thống NHTM có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Trong các ngành khác nhau của nên kinh tế thì rủi ro trong hoạt động NHTM có tính lan toả rất nhanh, chỉ cần một NHTM, dù ngân hàng đó có hoạt động yếu và quy mô nhỏ, khi gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, có thể dẫn đến rủi ro cao cho toàn hệ thống. Hệ thống NHTM trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội.
Theo đó có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của toàn hệ thống NHTM. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại a. Nghiệp vụ tài sản có Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội dung của nghiệp vụ này bao gồm: 10 - Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của ngân hàng được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng Trung ương đề ra.
- Nghiệp vụ cho vay: Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nghiệp vụ này bao gồm các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua cho vay ngắn hạn và trung, dài hạn đối với nền kinh tế. - Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường. - Nghiệp vụ khác: Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật; mà các ngân hàng thu được những khoản lợi nhuận đáng kể.
Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có - Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào ngân hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó ngân hàng thương mại có thể huy động và được sử dụng vào kinh doanh. Ngoài ra, ngân hàng còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi. - Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: NHTM sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn dài, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư các khoản vốn dài hạn của ngân hàng vào nền kinh tế. Ngoài ra còn giúp các NHTM tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Nghiệp vụ đi vay: Đối với nghiệp vụ này, NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng việc vay các TCTD trên thị trường tiền tệ và vay NHTW dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân ngân hàng thương mại khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. 11 - Nghiệp vụ huy động vốn khác: Các NHTM còn có thể tiến hành tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra, thông qua việc sử dụng các phương tiện trong thanh toán, đòi hỏi khách hàng phải ký gửi một bộ phận tiền vào ngân hàng và trên cơ sở đó các ngân hàng có thể sử dụng những vốn nhàn rỗi trên tài khoản để đưa vào hoạt động kinh doanh. Để mở rộng nghiệp vụ này các NHTM cần chú trọng đến phát triển các dịch vụ và không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường.
- Vốn tự có của ngân hàng: Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của các ngân hàng. Trong thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, đồng thời góp phần vào nâng cao vị thế của ngân hàng thương mại trên thương trường. Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản của NHTM Tuy việc quản lý tài sản Có và tài sản Nợ lâu nay đã là mối quan tâm lớn của các ngân hàng, song trong môi trường cạnh tranh ngày càng mãnh liệt của những năm gần đây cho thấy các ngan hàng đang ráo riết tìm ra lợi nhuận bằng cách thực hiện những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản.
Những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản liên quan đến việc: môi giới mua bán những công cụ tài chính đã tạo ra thu nhập nhờ các khoản lệ phí và chuyển những những món vay, tất cả chúng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, nhưng không thấy trong bảng tổng két tài sản ngân hàng. Một dạng thứ hai của hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản ngân hàng là bán các món cho vay. Một vụ bán món cho vay, còn được gọi là một vụ tham gia cấp hai vào món vay, gồm một hợp đồng bán toàn bộ hoặc một phần dòng tiền mặt từ một món cho vay đặc biệt và do vậy, loại bỏ món cho vay này khỏi bảng tổng kết tài sản của ngân hàng đó. Các ngan hàng thu lợi nhuận bằng cách bán các món cho vay với số tiền lớn hơn số tiền của món cho vay ban đầu.
Do vậy, những người mua món cho vay này thường thu được lãi suất thấp hơn so với lãi suất ban đầu của món vay đó vào khoảng 0,15%. 12 Một dạng thứ của những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản ngân hàng gồm việc tạo ra thu nhập nhờ những lệ phí mà các ngân hàng nhận được khi cung ứng những dịch vụ chuyên môn hóa cho các khách hàng của họ, ví dụ như: thực hiện kinh doanh hối đoái nhân danh một khách hàng; phục vụ một chứng khoán hỗ trợ vay thế chấp bằng cách thu tiền gốc và tiền lãi rồi đem thanh toán hết; bảo đảm các chứng khoán vay nợ, ví dụ các hối phiếu được ngân hàng chấp nhận… 1.