CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái quát về kế toán quản trị. Nhu cầu thông tin của nhà quản lý Thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định của nhà quản trị, không có thông tin nhà quản trị rất khó điều hành tốt tổ chức và không thể thực hiện được mục tiêu của tổ chức. Ngoài thông tin được cung cấp từ bộ phận kế toán, thông tin còn được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như bộ phận kế hoạch, bộ phận sản xuất, bộ phận marketing… Mỗi bộ phận này chỉ cung cấp thông tin cho nhà quản lý thấy được một mảng hoạt động trong công ty mà thôi.
Để ra quyết định, các nhà quản lý phải tổng hợp và sàng lọc các nguồn thông tin đó. Điều này sẽ tạo nên áp lực công việc cho các nhà quản trị và các quyết định đưa ra nhiều khi không còn hiệu quả do không đáp ứng được tính kịp thời. Thông tin cung cấp từ kế toán sẽ giúp các nhà quản trị giảm bớt áp lực công việc và ra các quyết định kịp thời, hiệu quả hơn vì: thông tin kế toán được phản ánh một cách có hệ thống về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của công ty và được kế toán xử lý trước khi báo cáo cho nhà quản lý. Kế toán quản trị cung cấp thông tin về mặt tài chính và phi tài chính một cách cụ thể, tỉ mỉ giúp cho các nhà quản trị: lập kế hoạch quản lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều hành các họat động hàng ngày và đưa ra các quyết định đúng đắn để công ty hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.
Mục tiêu của kế toán quản trị Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị, sau đây là một số khái niệm về kế toán quản trị: Theo hiệp hội kế toán Hoa Kỳ năm 1982: “kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị công ty hoạch định, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh trong phạm vi nội bộ công ty, nhằm sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặc chẽ các tài sản đó”. Theo quyển “the Macmillan dictionary of accounting” định nghĩa: “kế toán quản trị là phần kế toán liên quan chủ yếu đến công việc báo cáo nội bộ cho các nhà quản lý của một tổ chức. Nó nhấn mạnh đến việc quản lý và 9 ra quyết định hơn là khía cạnh kế toán. Nó không phụ thuộc vào pháp luật và các chuẩn mực kế toán”.
Trong cuốn “managerial accounting” xuất bản lần thứ bảy của tác giả Ray H.Garrison: “kế toán quản trị liên quan đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong tổ chức, những người quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức. Kế toán quản trị có thể tương phản với kế toán tài chính - liên quan đến việc cung cấp thông tin cho cổ đông, chủ nợ và những người khác bên ngoài tổ chức”. Trong cuốn “Advanced management accounting” xuất bản lần thứ ba của tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson, kế toán quản trị được định nghĩa như sau: “hệ thống kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý trong một tổ chức để họ lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của mình”. Theo định nghĩa kế toán quản trị trong luật kế toán năm 2003 của Việt Nam thì: “kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Thông qua các định nghĩa trên, mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản lý công ty. Tùy theo yêu cầu của nhà quản lý, kế toán quản trị sẽ cung cấp các dạng thông tin khác nhau. Tuy nhiên chung qui lại thông tin kế toán quản trị cung cấp giúp nhà quản lý thực hiện các công việc sau: Lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Tổ chức, điều hành và kiểm soát hiệu quả hoạt động và trách nhiệm quản lý của tất cả các bộ phận trong tổ chức.
Ra các quyết định kinh tế đúng đắn. Vai trò của kế toán quản trị. Hàng ngày các nhà quản lý phải ra hàng loạt các quyết định trong việc điều hành các hoạt động của công ty. Có nhiều nguồn thông tin cung cấp từ các bộ phận khác nhau trong công ty phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản lý.
Một trong những nguồn thông tin đóng vai trò quan trọng, giúp các nhà quản lý ra các quyết định đúng đắn đó là thông tin kế toán quản trị. Vai trò của kế toán quản trị đối với hoạt động quản lý được thể hiện như sau: 10 Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: thông tin trong dự toán ngân sách sẽ giúp các nhà quản trị lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch. Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành hoạt động của công ty: kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin kịp thời về các mặt hoạt động của công ty, để nhà quản lý xem xét và ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã đề ra. Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: kế toán quản trị sẽ cung cấp các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, các hoạt động bất thường … từ đó giúp các nhà quản trị thấy được những vấn đề cần điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt của tổ chức theo đúng mục tiêu đã đề ra.
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: ra quyết định là chức năng cơ bản nhất của nhà quản trị. Ra quyết định chính là lựa chọn phương án thích hợp nhất. Để có được quyết định đúng đắn kịp thời phải có thông tin nhanh chóng, phù hợp, chính xác đó chính là thông tin của kế toán quản trị. Tóm lại kế toán quản trị có vai trò như là công cụ phục vụ cho việc hoạch định, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có những quyết định hợp lý để điều hành hoạt động ngày càng đạt hiệu quả hơn.
Yêu cầu tổ chức hệ thống kế toán quản trị. Khi xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại công ty phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Hệ thống kế toán quản trị phải đáp ứng được việc ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin phù hợp cho từng đối tượng sử dụng thông tin và phải đảm bảo tính liên thông với hệ thống kế toán tài chính. - Công tác kế toán quản trị phải đáp ứng được yêu cầu quản lý của công ty. Cụ thể là phải đáp ứng được yêu cầu lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định của nhà quản lý.
- Công tác kế toán quản trị phải phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của công ty ở hiện tại cũng như trong tương lai. - Tổ chức hệ thống kế toán quản trị phải đảm bảo tính hiệu quả về mặt thời gian cũng như về mặt chi phí. 11 - Phải ứng dụng được công nghệ thông tin trong công tác kế toán quản trị tại công ty. Các phương pháp sử dụng trong kế toán quản trị.
Cũng giống như kế toán tài chính, kế toán quản trị sử dụng bốn phương pháp sau: - Phương pháp chứng từ kế toán: do đặc điểm riêng của kế toán quản trị nên ngoài việc sử dụng các chứng từ theo qui định, kế toán quản trị còn sử dụng nhiều chứng từ nội bộ khác để phục vụ cho việc thu thập, phân loại, xử lý thông tin nhằm cung cấp thông tin đáp ứng cho yêu cầu quản lý công ty. - Phương pháp tài khoản: để phục vụ cho yêu cầu cung cấp thông tin, phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ tại công ty, kế toán quản trị phải thiết kế một hệ thống tài khoản chi tiết phù hợp với đặc điểm, qui mô hoạt động và yêu cầu quản lý tại công ty. - Phương pháp tính giá: bên cạnh việc cung cấp thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ, kế toán quản trị còn cung cấp thông tin về chi phí, giá thành cho kế toán tài chính để lập các báo cáo tài chính cung cấp cho các bộ phận bên ngoài. Vì thế, ngoài những phương pháp tính giá đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin trong nội bộ, kế toán quản trị còn phải tuân thủ những nguyên tắc tính giá các yếu tố đầu vào, đầu ra theo các chuẩn mực kế toán hiện hành nhằm đảm bảo được tính trung thực, hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính.
- Phương pháp tổng hợp cân đối: phương pháp tổng hợp cân đối được vận dụng trong kế toán quản trị thông qua việc xây dựng các chỉ tiêu trên hệ thống báo cáo kế toán quản trị phải đảm bảo tính tổng hợp và cân đối. - Ngoài ra do đặc thù của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhà quản lý, nên kế toán quản trị còn sử dụng thêm những phương pháp như: Phương pháp toán học: kế toán quản trị sử dụng phương pháp này thông qua việc trình bày thông tin dưới dạng hàm số, phương trình, đồ thị…để xử lý thông tin phục vụ cho việc ra quyết định. Phương pháp phân tích chênh lệch: để phục vụ cho công tác kế toán quản trị, kế toán còn sử dụng phương pháp phân tích chênh lệch thông qua việc sử dụng phương pháp so sánh. Ngoài ra, để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến đối tượng phân tích, kế toán quản trị còn sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn.
So sánh kế toán quản trị và kế toán tài chính. Kế toán tài chính và kế toán quản trị có những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản sau đây: - Những điểm giống nhau: Cùng phản ánh và giám đốc các đối tượng kế toán trong các tổ chức. Đều quan tâm đến việc lượng hóa thông tin của các sự kiện kinh tế. Cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán.
Thể hiện trách nhiệm của người quản lý. - Những điểm khác nhau: Bảng 1: sự khác nhau cơ bản của kế toán quản trị và kế toán tài chính.