CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu 1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu ve khả nâng vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp Tác giả Lowth và cộng sự, (2013) đã tiến hành khảo sát hiện trạng vận dụng hệ thống KTQT đối với loại hình DNNW tại Anh. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn DNNVV vận dụng KTQT nhằm giúp đỡ các nhà quản trị thu thập thông tin hơn là hỗ trợ ra quyết định vì vậy DNNW có quy mô càng nhỏ thì người quản trị lại càng kiêm cả công tác KTQT. Nghiên cứu của tác giả Howard và Alan Webb, (2013) cho rằng các kỹ thuật KTQT vận dụng ở các DNNW của Canada được chia thành 4 nhóm gồm: (1) tính giá, (2) lập dự toán, (3) đo lường thành quả và (4) hỗ trợ việc ra quyết định. Ket quả nghiên cứu cho thấy các kỹ thuật KTQT hỗ trợ nhà quản trị kiểm soát doanh nghiệp tốt hơn bằng việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị, hỗ trợ nhà quản trị phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định kịp thời.
Tác giả Armitage và đồng sự (2013) tiến hành phân tích cụ thể việc sử dụng các kỹ thuật KTQT tại các DNNW bao gồm tính toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, phân tích báo cáo tài chính, hỗ trợ lập dự toán và phân tích các sai lệnh. Dù vậy, các DNNW chỉ sử dụng nó để lập dự toán và phân tích các sai sót chủ yếu cho mục đích lên kế hoạch, ít chú ý tới mục đích thực hiện chức năng kiểm soát. Tác giả Ngô Thị Thu, (2019) với đề tài “Vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp xuất ở Việt Nam” nghiên cứu cho thấy việc tổ chức và vận dụng các mô sản hình KTQT tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam hiện nay chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, và còn tồn tại nhiều hạn chế. Trong đó hệ thống kế toán mang tính hỗn hợp giữa kế toán tài chính và KTQT, do vậy doanh nghiệp còn gặp bất lợi trong việc vận dụng.
Và hơn nữa, các doanh nghiệp chưa nhìn thấy hết được tầm quan trọng vai trò mà KTQT đem lại, nên chưa vận dụng và thực hiện KTQT một cách khoa học và hợp lý. Một yếu tố dẫn đến các doanh nghiệp chưa thể vận dụng thành công KTQT 5 đó là trình độ và nghiệp vụ chuyên môn của kế toán viên chưa đồng đều, và chưa thỏa mãn được yêu cầu cần thiết để vận dụng đầy đủ KTQT vào DN. Tác giả Phạm Huy Hùng, (2020) thực hiện nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp vận dụng hiệu quả KTQT tại các DN sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò rất quan trọng của KTQT trong hoạt động sản xuất của các DN.
Song việc các DN sản xuất vận dụng KTQT còn rất ít. Từ kết quả đó tác giả đề xuất ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng KTQT vào DN sản xuất, trong đó chú trọng đến các chủ thể sau: (1) vai trò của co quan quản lý nhà nước; (2) các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực về KTQT; (3) đối với các doanh nghiệp có hoặc có ý định vận dụng KTQT; (4) đối với nguồn nhân lực thực hiện KTQT trong các DN. Đe tài nghiên cứu “Vận dụng kế toán quản trị đối với đơn vị sự nghiệp công lập và một số vấn đề đặt ra” của tác giả Nguyễn Văn Hòa, (2021). Nghiên cứu đưa ra được tầm quan trọng của việc vận dụng KTQT trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc nâng cao chất lượng hoạt động.
Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra các rào cản, thách thức tại các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc vận dụng KTQT, đó là: (1) Thiếu sự quan tâm từ các nhà lãnh đạo; (2) hệ thống báo cáo chỉ tập trung vào báo cáo tài chính theo quy định của đơn vị sự nghiệp công; (3) DN công chưa chủ động được trong việc xây dựng bộ máy kế toán; (4) sự thiếu kiến thức về KTQT của đội ngũ kế toán viên. Nguyễn Thị Mai Hương, (2023) khi nghiên cứu “vận dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất ở việt nam” nhìn nhận vai trò không thể thiếu của KTQT trong hoạt động của DN, nó giúp các nhà quản trị quản lý tốt DN của mình. Nghiên cứu chỉ ra thực trạng vận dụng KTQT của các DN Việt Nam chỉ mới được vận dụng ở mức độ giới hạn, chỉ mới vận dụng ở mức lập kế hoạch và quản trị chi phí, các DN không chú trọng trong việc đầu tư nâng cao năng lực chuyên môn cho các nhân viên thực hiện KTQT, việc lập các chứng từ, báo cáo KTQT còn nhiều thiếu sót, chưa chú trọng việc phân tích báo cáo KTQT trong doanh nghiệp và chưa vận dụng các phần mềm hỗ trợ KTQT trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng đề xuất 6 ra các giải pháp nhằm tăng cường KNVD KTQT vào doanh nghiệp, đặc biệt trọng tâm vào sự thay đổi ở các cấp quản lý nhà nước, sự thay đổi từ doanh nghiệp.2 Các nghiên cứu về nhân to ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong một nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Ke toán KTQT tại DNWN ở Malaysia, Ismail và King (2007) đã thu thập dữ liệu từ 214 doanh nghiệp, tập trung vào 19 đặc điểm của hệ thống ké toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên kết tích cực giữa hệ thống thông tin kế toán và sự hỗ trợ từ các cơ quan Quản lý Nhà nước và công ty kiểm toán. Ngoài ra, còn sự ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ, cũng như sự hiểu biết của chủ sở hữu và nhà quản lý doanh nghiệp về KTQT đối với việc vận dụng KTQT tại các DNNW ở Malaysia. Nghiên cứu của Ahmad và Mohamed (2015) đã thực hiện một cuộc khảo sát, thu thập dữ liệu từ 110 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến ở Malaysia, với quy mô vừa. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng những yếu tố như "Quy mô DN," "Mức độ cạnh tranh trên thị trường," "Cam kết của chủ sở hữu/quản lý," và "Công nghệ sản xuất hiện đại" đều có tác động đáng kể đối với việc vận dụng KTQT tại các DN có quy mô vừa trong ngành công nghiệp chế biến ở Malaysia.
Tác giả Abdel-Kader và Luther, R. (2008), đã tiến hành một nghiên cứu tại các DN trong ngành công nghiệp thực phẩm và nước uống tại Vương quốc Anh. Trong nghiên cứu của mình, họ đã đề xuất và xác minh những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các DN trong lĩnh vực này. Cụ thể, có năm nhân tố được xác định: Thứ nhất, nhận thức về sự không ổn định của môi trường; thứ hai, nhận thức về mức độ cạnh tranh; thứ ba, văn hóa doanh nghiệp; thứ tư, thiết kế tổ chức tập quyền; và thứ năm, thiết kế tổ chức chính thức hóa.
Đặc biệt, tất cả những yếu tố nêu trên đều có tác động đáng kể đến KNVD KTQT tại các DN trong ngành công nghiệp thực phẩm và nước uống tại Vương quốc Anh. Trong nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các công ty liên doanh tại Trung Quốc, tác giả Wu và đồng nghiệp (2010) đã tập trung vào các 7 nhân tố như "Quy mô DN," "Các đối tác nước ngoài," "TĐ của nhà quản lý cấp cao," và "TĐ của nhân viên." Nghiên cứu chỉ ra rằng, "Quy mô DN" và "TĐ của nhà quản lý cấp cao" là những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng triển khai KTQT. Tuy nhiên, vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy việc áp dụng KTQT trong DN không được thể hiện rõ trong kết quả nghiên cứu. Trong một nghiên cứu được tiến hành tại Dubai với sự tham gia của 95 DNNW, tác giả Albaddad và Nassar (2018) đã xác định và kiểm chứng 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV.
Những nhân tố này bao gồm "MĐ cạnh tranh," "Tuổi của Doanh nghiệp," "Loại ngành công nghiệp," "Chất lượng của chủ sở hữu," và "Quy mô DN." Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố nêu trên đều có tác động đáng kể đến quá trình vận dụng KTQT trong các DNNW tại Dubai. Trong nghiên cứu về thực tiễn KTQT của các DNNW tại Malaysia, của nhóm tác giả Afirah Azudin và Noorhayati Mansor (2018), được tập trung vào tác động của DNA tổ chức, tiềm năng kinh doanh và công nghệ vận hành. Tác giả đã xác định ba nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT ở các DNNW, bao gồm: (1) DNA tổ chức; (2) tiềm năng kinh doanh; và (3) công nghệ vận hành. Nghiên cứu sử dụng cả phưong pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát tại các DNNW tại ba bang bờ biển phía đông Malaysia, đó là: (i) Kelantan; (ii) Terengganu; và (iii) Pahang. Dữ liệu này sau đó được xử lý bằng phần mềm SPSS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong số ba nhân tố nêu trên, chỉ có nhân tố "công nghệ vận hành" có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng vận dụng KTQT tại các DNNW ở Malaysia. Các nhân tố khác như "DNA tổ chức" và "tiềm năng kinh doanh" lại không có tác động đáng kể đối với việc vận dụng KTQT trong ngữ cảnh nghiên cứu này.
Tác giả Trần Ngọc Hùng, (2016), khi thực hiện nghiên cứu “các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DNNW tại Việt Nam”, kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố tác động việc vận dụng KTQT trong DNNW Việt Nam là: (1) 8 mức độ sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp; (2) chi phí cho việc tổ chức KTQT của các DNNW; (3) chiến lược kinh doanh; (4) quy mô DNNW; (5) văn hóa doanh nghiệp; (6) nhận thức của người chủ/ điều hành doanh nghiệp; (7) mức độ cạnh tranh của thị trường. Trong đó, nhân tố mức độ sỏ hữu của Nhà nước trong chiếm tỷ lệ ảnh hưởng mạnh nhất. Hà Phước Vũ đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát tại thành phố Đà Nang, tập trung vào các DNNW. Mô hình nghiên cứu của ông đề xuất năm nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNNW tại khu vực này.
Các nhân tố này bao gồm Quy mô Doanh nghiệp, Mức độ cạnh tranh, Nhận thức của người quản lý/chủ Doanh nghiệp, Hệ thống Công nghệ Thông tin và Chi phí liên quan đến tổ chức KTQT. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng hai nhân tố quan trọng là Nhận thức của chủ doanh nghiệp và Chi phí thực hiện công tác KTQT đều có tác động đáng kể đến quá trình vận dụng KTQT trong các DNNW tại thành phố Đà Nang.