Tổng quan nghiên cứu

Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn là một trong năm doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định trực tiếp quản lý, với quy mô vốn điều lệ đăng ký đạt 36 tỷ đồng. Doanh nghiệp gánh vác nhiệm vụ quản lý, bảo vệ diện tích rừng rộng lớn trên địa bàn huyện miền núi Vĩnh Thạnh, đồng thời triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng bao gồm trồng rừng, khai thác lâm sản, dịch vụ kỹ thuật nông lâm nghiệp và sản xuất cây giống. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và lộ trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, ban lãnh đạo công ty đứng trước bài toán tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhưng mô hình quản lý hiện tại vẫn nặng tính tập trung truyền thống, chưa phân định rõ quyền hạn tài chính gắn liền với trách nhiệm cụ thể của từng cấp cơ sở.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng công tác kế toán quản trị tại công ty, từ đó thiết lập mô hình kế toán trách nhiệm hoàn chỉnh nhằm kiểm soát chi phí, thúc đẩy doanh thu và đánh giá công bằng thành quả của từng bộ phận. Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi không gian tại văn phòng công ty, 4 phòng nghiệp vụ, 3 đội quản lý bảo vệ rừng trồng và 5 trạm bảo vệ rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Bình Định, sử dụng chuỗi dữ liệu kế toán và tài chính năm 2018 làm mốc phân tích điển hình.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được lượng hóa rõ nét thông qua việc cung cấp công cụ kiểm soát mục tiêu doanh thu 22,4 tỷ đồng trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ 3,12 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp và tối ưu hóa chi phí khai thác trên diện tích 181,53 ha rừng trồng. Đề tài mở ra hướng đi khoa học giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư, tạo nền tảng vững chắc cho việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước trong giai đoạn phát triển dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý thuyết của đề tài được xây dựng từ lý thuyết phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm được phát triển bởi các học giả kinh điển như Emmanuel (1990), Atkinson (2001) cùng nghiên cứu nền tảng về cấu trúc trung tâm trách nhiệm của Melumad (1992). Kế toán trách nhiệm được xác định là một bộ phận cốt lõi của kế toán quản trị, có chức năng thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính lẫn phi tài chính gắn liền với phạm vi kiểm soát của từng nhà quản trị bộ phận. Theo quan điểm của các chuyên gia kế toán quản trị Việt Nam như Huỳnh Lợi, Võ Văn Nhị, Phạm Văn Dược và Trần Thanh Tùng, hệ thống kế toán trách nhiệm vận hành dựa trên sự phân quyền rõ ràng, bao gồm bốn loại hình trung tâm cơ bản: Trung tâm chi phí, Trung tâm doanh thu, Trung tâm lợi nhuận và Trung tâm đầu tư.

Mô hình nghiên cứu vận dụng các khái niệm quản trị then chốt gồm: phân loại chi phí theo cách ứng xử thành biến phí và định phí, xác định số dư đảm phí, dự toán ngân sách linh hoạt và phân tích sai lệch chi phí. Đánh giá thành quả tại các trung tâm trách nhiệm được thực hiện thông qua hệ thống công thức toán học chặt chẽ. Đối với trung tâm chi phí, biến động lượng được tính bằng tích số giữa giá định mức với chênh lệch lượng thực tế và lượng định mức; biến động giá được đo lường bằng tích số giữa lượng thực tế với chênh lệch đơn giá. Đối với trung tâm đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn được đo lường bằng hai chỉ tiêu tài chính cốt lõi: Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư (ROI) bằng lợi nhuận thuần chia cho vốn kinh doanh bình quân, và Thu nhập thặng dư (RI) bằng lợi nhuận hoạt động trừ đi chi phí sử dụng vốn định mức.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích đối chiếu, thống kê mô tả và tổng hợp logic thực chứng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ hệ thống sổ kế toán Nhật ký chung, báo cáo tài chính theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, sổ chi tiết tài khoản 154, 627, báo cáo dự toán lâm sinh và kế hoạch tài chính sản xuất kinh doanh năm 2018 của doanh nghiệp.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn bộ bao gồm 100% các đơn vị trực thuộc công ty: 4 phòng chức năng (Kế toán - Tài chính, Tổ chức - Hành chính, Kế hoạch - Kỹ thuật, Quản lý bảo vệ rừng), 3 đội quản lý bảo vệ rừng trồng (Hoài Ân, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh) và 5 trạm quản lý bảo vệ rừng tự nhiên (Vĩnh Sơn, Suối Cát, Lò Than, Nước Poon - Núi Trắc, Cà Phê). Lý do lựa chọn phương pháp này là vì ngành lâm nghiệp có tính chất chu kỳ sinh trưởng dài ngày, địa bàn phân tán rộng, đòi hỏi cỡ mẫu phải bao quát toàn diện mọi mắt xích tác nghiệp để bảo đảm tính chính xác khi thiết lập các trung tâm trách nhiệm. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt khóa đào tạo thạc sĩ 2017 - 2019, tập trung khai thác sâu các báo cáo kiểm toán nội bộ và số liệu kế toán năm 2018 nhằm bảo đảm tính cập nhật và giá trị thực chứng cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý của công ty hiện phân thành 2 cấp quản lý với 45 nhân sự (gồm 5 cán bộ quản lý và 40 người lao động trực tiếp), tuy nhiên doanh nghiệp hoàn toàn chưa thiết lập các trung tâm trách nhiệm chính thức. Bộ máy kế toán đang vận hành theo mô hình tập trung trên phần mềm máy tính, mọi chứng từ từ 3 đội sản xuất và 5 trạm bảo vệ rừng đều dồn về phòng Kế toán tại văn phòng để xử lý, khiến kế toán chỉ đơn thuần phục vụ lập báo cáo tài chính tuân thủ pháp lý mà chưa cung cấp được dữ liệu phục vụ quản trị điều hành theo từng cấp phân quyền.

Thứ hai, công tác lập kế hoạch và dự toán chi phí chưa gắn liền với phân cấp trách nhiệm tài chính. Kế hoạch năm 2018 đặt mục tiêu tổng doanh thu 22,4 tỷ đồng, trong đó doanh thu khai thác 181,53 ha rừng trồng chiếm tỷ trọng chủ đạo đạt 17,4 tỷ đồng (tương đương 77,68% tổng doanh thu), sản xuất cây giống Sa nhân đạt 550 triệu đồng và doanh thu tài chính đạt 4 tỷ đồng. Mặc dù công ty đã xây dựng dự toán chi phí trồng, chăm sóc 1 ha rừng và làm đường ranh cản lửa, nhưng toàn bộ chi phí trên tài khoản 627 và tài khoản 154 chưa được bóc tách thành biến phí và định phí, không phân tích nguyên nhân sai lệch do lượng hay do giá đối với từng đội lâm sinh.

Thứ ba, cơ chế đánh giá thành quả và trả lương thưởng còn mang nặng tính bình quân cơ học. Công ty thực hiện xếp loại lao động hàng tháng theo 3 mức (loại A hưởng hệ số 1,0 tương đương 100% lương; loại B hưởng 0,8 và loại C hưởng 0,6) dựa trên tiêu chí ngày công hành chính (đảm bảo 26 ngày công/tháng đối với lực lượng bảo vệ rừng và 23 ngày công/tháng đối với khối văn phòng). Mức thu nhập bình quân của người quản lý đạt 28 triệu đồng/người/tháng và người lao động đạt 8 triệu đồng/người/tháng nhưng chưa có bất kỳ chỉ tiêu tài chính định lượng nào gắn với số dư đảm phí, ROI hay hiệu quả tiết kiệm chi phí định mức được áp dụng để đánh giá trách nhiệm người đứng đầu bộ phận.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất cập tại doanh nghiệp xuất phát từ nguyên nhân khách quan do đặc thù địa hình rừng núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn khiến thông tin kế toán bị chậm trễ, cùng nguyên nhân chủ quan là ban điều hành chưa nhận thức đầy đủ vai trò của kế toán quản trị trong việc trao quyền tự chủ tài chính cho cấp cơ sở. Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây của Tôn Nữ Xuân Hương tại Công ty Cổ phần Dược DANAPHA và Nguyễn Thị Quí tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội, khi đều khẳng định rằng việc thiếu vắng hệ thống kế toán trách nhiệm khiến doanh nghiệp khó nhận diện chính xác các mắt xích làm phát sinh lãng phí.

Để khắc phục hạn chế này, các dữ liệu kế toán chi phí và doanh thu cần được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu biến phí - định phí của từng đội sản xuất, kết hợp bảng đối chiếu biến động chi phí đa chiều giữa thực hiện và dự toán. Việc hiển thị dữ liệu qua biểu đồ trực quan sẽ giúp nhà quản trị cấp cao nhanh chóng phát hiện các khoản chi vượt định mức từ 5% đến 10% tại từng tiểu khu rừng, từ đó đưa ra quyết định điều chỉnh tác nghiệp kịp thời thay vì chờ đến kỳ quyết toán năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc và phân định cụ thể 4 trung tâm trách nhiệm trong toàn công ty. Ban Giám đốc đóng vai trò Trung tâm đầu tư chịu trách nhiệm về chỉ tiêu ROI và RI; Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật và bộ phận kinh doanh đảm nhiệm Trung tâm doanh thu; toàn bộ công ty là Trung tâm lợi nhuận; 3 Đội quản lý bảo vệ rừng trồng cùng 5 Trạm bảo vệ rừng tự nhiên được chuẩn hóa thành các Trung tâm chi phí tiêu chuẩn và chi phí tùy ý. Mục tiêu đề ra là 100% chi phí phát sinh được phân bổ chính xác về đúng chủ thể quản lý trong vòng 6 tháng triển khai.

Thứ hai, xây dựng quy trình lập dự toán chi phí linh hoạt và phân tích sai lệch chi tiết. Phòng Kế toán - Tài chính chủ trì phân loại chi phí trên tài khoản 627 thành biến phí và định phí, thiết lập định mức kỹ thuật lâm sinh cho từng công đoạn từ ươm giống cây Sa nhân đến chăm sóc rừng trồng, phấn đấu cắt giảm từ 5% đến 8% chi phí sản xuất kinh doanh dở dang trên tài khoản 154 vào quý 1 hàng năm.

Thứ ba, hoàn thiện bộ chỉ tiêu đánh giá thành quả gắn liền với trách nhiệm kinh tế. Ban lãnh đạo cần áp dụng chỉ tiêu ROI và RI cho cấp điều hành; số dư đảm phí cho từng mảng kinh doanh; kết hợp chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch 181,53 ha khai thác gỗ với tiêu chuẩn 23 đến 26 ngày công lao động. Chỉ tiêu này hướng tới mục tiêu nâng cao mức độ công bằng và minh bạch trong đánh giá hiệu quả công việc lên trên 90%.

Thứ tư, thiết kế hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm định kỳ đa tầng. Phòng Kế toán chịu trách nhiệm thiết lập các mẫu báo cáo chi phí từ cấp trạm, đội gửi lên hàng tháng, tổng hợp báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo đầu tư trình Hội đồng thành viên và Ủy ban nhân dân tỉnh. Lộ trình vận hành thử nghiệm kéo dài 12 tháng trước khi tích hợp số hóa hoàn toàn vào phần mềm kế toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và các nhà quản trị tại các công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp nhà nước nông lâm nghiệp trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung mô hình mẫu về phân cấp quản lý và kiểm soát tài chính tối ưu cho các đơn vị có quy mô vốn từ 30 đến 50 tỷ đồng với địa bàn quản lý phân tán.

Nhóm thứ hai là kế toán trưởng, chuyên viên kế toán quản trị và kiểm soát viên nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất. Họ có thể vận dụng trực tiếp phương pháp phân loại chi phí, kỹ thuật tính toán sai lệch lượng - giá và hệ thống biểu mẫu báo cáo trách nhiệm vào thực tế công tác kế toán của đơn vị mình.

Nhóm thứ ba là các học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Quản trị kinh doanh. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị, minh chứng rõ nét cho việc ứng dụng lý thuyết kế toán trách nhiệm quốc tế vào giải quyết bài toán thực tiễn tại doanh nghiệp Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính. Báo cáo nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giúp các cơ quan chủ sở hữu hoàn thiện quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả bảo toàn vốn nhà nước tại các doanh nghiệp công ích.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp lâm nghiệp quy mô 45 nhân sự có thực sự cần thiết lập kế toán trách nhiệm không? Hoàn toàn cần thiết vì diện tích rừng quản lý trải rộng trên nhiều huyện miền núi hiểm trở như Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Hoài Ân. Mô hình kế toán trách nhiệm giúp phân định rõ trách nhiệm tài chính cho từng trạm trưởng, đội trưởng, từ đó kiểm soát chặt chẽ 3,12 tỷ đồng vốn ngân sách và 22,4 tỷ đồng kế hoạch doanh thu.

Hệ thống kế toán máy hiện tại của doanh nghiệp gặp những rào cản gì khi triển khai kế toán quản trị? Phần mềm kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC tại công ty hiện chỉ phục vụ hạch toán tổng hợp để lập báo cáo tài chính pháp lý. Hệ thống này chưa thiết lập mã phân tích theo trung tâm trách nhiệm, chưa tự động phân tách biến phí - định phí và thiếu các mẫu báo cáo so sánh sai lệch dự toán.

Chỉ tiêu nào giữ vai trò quyết định khi đánh giá Trung tâm đầu tư tại công ty lâm nghiệp? Chỉ tiêu Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư (ROI) và Thu nhập thặng dư (RI) là hai thước đo cốt lõi. Với quy mô vốn điều lệ 36 tỷ đồng, việc áp dụng ROI và RI giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá chính xác năng lực bảo toàn vốn và hiệu quả sinh lời thực chất của ban điều hành.

Làm thế nào để phân loại chi phí lâm sinh thành biến phí và định phí một cách khoa học? Biến phí bao gồm chi phí cây giống Sa nhân 550 triệu đồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhân công thời vụ đào hố biến động trực tiếp theo diện tích ha canh tác. Định phí gồm chi phí khấu hao trạm bảo vệ rừng, lương quản lý 28 triệu đồng/tháng/người và chi phí quản lý hành chính cố định.

Mối liên hệ giữa kế toán trách nhiệm và quy chế chi trả lương thưởng được đề xuất như thế nào? Luận văn đề xuất gắn kết kết quả đánh giá kế toán trách nhiệm vào quỹ thưởng. Cán bộ quản lý và các đội sản xuất tiết kiệm được từ 3% đến 5% chi phí dự toán lâm sinh hoặc vượt chỉ tiêu sản lượng khai thác 181,53 ha rừng trồng sẽ được nâng hệ số lương và trích thưởng xứng đáng.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm và mô hình 4 trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng tổ chức kế toán và quản lý tại Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn trên khối dữ liệu năm 2018.
  • Xây dựng mô hình 4 trung tâm trách nhiệm gắn kết chặt chẽ với cơ cấu 4 phòng nghiệp vụ, 3 đội sản xuất và 5 trạm bảo vệ rừng.
  • Thiết lập hoàn chỉnh bộ tiêu chí đánh giá thành quả tài chính hiện đại (ROI, RI, số dư đảm phí) kết hợp hệ thống báo cáo sai lệch dự toán.
  • Đề xuất lộ trình triển khai 3 giai đoạn giúp doanh nghiệp kiểm soát tối ưu nguồn vốn 36 tỷ đồng và mục tiêu doanh thu 22,4 tỷ đồng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lấp đầy khoảng trống giữa lý thuyết kế toán quản trị hàn lâm và thực tiễn điều hành tại một doanh nghiệp lâm nghiệp đặc thù của nhà nước. Lộ trình thực hiện khuyến nghị gồm giai đoạn chuẩn hóa định mức trong quý 1, vận hành thử nghiệm 6 tháng và tích hợp số hóa hoàn toàn trong 12 tháng tiếp theo. Các nhà quản trị doanh nghiệp và bạn đọc quan tâm hãy áp dụng ngay khung giải pháp của luận văn để nâng tầm hiệu quả quản trị tài chính tại đơn vị mình.