Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Nguyễn Bích Hiền có tiêu đề đầy đủ là "Kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam", chuyên ngành Kế toán (mã số 62.01), được bảo vệ tại Trường Đại học Thương mại năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Đặng Thị Loan và PGS. TS. Đỗ Minh Thành.

Về tính cấp thiết, cho thuê tài chính (CTTC) được xác định là một phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn bằng hiện vật, có tính an toàn cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận máy móc, thiết bị hiện đại mà không đòi hỏi tài sản thế chấp truyền thống. Tại Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất lớn trong khi khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng thương mại còn hạn chế. Hoạt động CTTC chính thức hình thành từ năm 1995 theo Nghị định 64/CP. Tính đến ngày 30/12/2015, toàn hệ thống có 11 công ty CTTC được cấp phép, song quy mô hoạt động có xu hướng thu hẹp do khó khăn kinh tế, nợ xấu gia tăng và cơ chế chính sách chưa đồng bộ. Kế toán hoạt động CTTC giữ vai trò công cụ quản lý thiết yếu nhằm cung cấp thông tin về nợ phải thu, doanh thu tiền lãi và khả năng tài trợ vốn. Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp lý hướng dẫn kế toán CTTC tại Việt Nam chưa hoàn thiện, khiến các đơn vị gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện các giao dịch phức tạp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Tính đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có luận án tiến sĩ hay đề tài khoa học các cấp nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về kế toán hoạt động CTTC dưới góc độ đơn vị cho thuê (bên cho thuê), gắn liền với quy trình nghiệp vụ và các phương thức giao dịch đặc thù như cho thuê giáp lưng, cho thuê bắc cầu, cho thuê hợp vốn và bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hoàn thiện kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa và phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động CTTC và kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC.
  2. Nghiên cứu môi trường pháp lý, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam; chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế cùng nguyên nhân của hạn chế.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hoạt động CTTC trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như thế nào?
  2. Những nguyên tắc và phương pháp kế toán nào nhằm cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC trong các doanh nghiệp CTTC?
  3. Thực trạng hoạt động CTTC và kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam như thế nào? Đã đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế đối với hoạt động CTTC trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế chưa?
  4. Cần phải có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC (bên cho thuê). Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Nghiên cứu các giao dịch phát sinh từ hoạt động CTTC tại đơn vị cho thuê gắn với hợp đồng CTTC qua 4 giai đoạn (khởi đầu, bắt đầu thời hạn, thực hiện và kết thúc hợp đồng) dưới góc độ kế toán tài chính, không nghiên cứu kế toán quản trị.
  • Về không gian: Khảo sát thực tế tại 07 công ty CTTC trực thuộc các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam. Luận án không nghiên cứu các công ty CTTC độc lập, các công ty trực thuộc doanh nghiệp phi tài chính và các tổ chức nước ngoài.
  • Về thời gian: Khảo sát, thu thập số liệu và tài liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu nghiên cứu quốc tế được tác giả hệ thống hóa qua nhiều công trình:

  • Dennis W. Monson (2001) trong công trình "The conceptual Framework and Accounting for Leases" trên tạp chí Accounting Horizons chỉ ra các mâu thuẫn về khái niệm tài sản và nợ phải trả trong các chuẩn mực kế toán thuê tài sản, xây dựng mô hình quyết định ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của bên đi thuê nhưng chưa xem xét kế toán bên cho thuê.
  • Robert C. Lipe (2001) với bài viết "Commentary: Lease accounting research and the G4+1 Proposal" trên Accounting Horizons phân tích các quy định kế toán bên cho thuê theo đề xuất của nhóm G4+1, nhấn mạnh yêu cầu phân loại hợp đồng không hủy ngang và tách biệt giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê với giá trị còn lại của tài sản. Công trình này trích dẫn nghiên cứu của Power và Revsine (1989) đối với công ty Comdisco (chỉ ra giá trị còn lại thực tế thấp hơn 5% so với kỳ vọng làm giảm thu nhập của hợp đồng cho thuê xuống còn 114%) và nghiên cứu của John cùng cộng sự (1993) về hành vi tăng giá trị còn lại dự kiến để ứng phó với Đạo luật cải tổ thuế năm 1986 tại Mỹ.
  • Wenqi Ma (2011) trong đề tài "Impact on Financial statements of new accounting model for leases" phân tích sự khác biệt giữa mô hình kế toán truyền thống với phương pháp tiếp cận nghĩa vụ thực hiện (performance obligation approach) và phương pháp tiếp cận chấm dứt ghi nhận (derecognition approach) đối với bên cho thuê.
  • Éva Gulyás (2014) với luận án tiến sĩ "Problems of handling accounting for financial leasing within the framework of domestic and international regulations" tại Hungary, phân tích sự hội tụ giữa Luật Kế toán Hungary với Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS).

Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:

  • Hà Cúc (1998) trong bài báo "Một số suy nghĩ về hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng" (Tạp chí Ngân hàng) so sánh hệ thống tài khoản doanh nghiệp theo Quyết định 1141/TC-QĐ-CĐKT với hệ thống tài khoản tổ chức tín dụng theo Quyết định 41/QĐ-NH2.
  • Ngô Văn Thịnh (2001) qua bài viết "Chuẩn mực kế toán thuê tài sản: Liệu có phù hợp với thực tiễn Việt Nam?" (Tạp chí Kế toán) phân tích Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17, đề xuất định lượng hóa các tiêu chuẩn phân loại hợp đồng thuê tài chính tại Việt Nam (thời hạn thuê tối thiểu 60% theo Nghị định 64/CP hoặc 75% theo thực tiễn Mỹ; giá trị hiện tại tối thiểu 90% giá trị thị trường).
  • Nguyễn Công Phương (2004) với bài báo "Bàn về chuẩn mực kế toán thuê tài sản" (Tạp chí Tài chính) chỉ ra tính định tính và sự thiếu hụt phương pháp tính toán cụ thể cho tiêu chuẩn 3 và tiêu chuẩn 4 trong Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 06 (VAS 06), cũng như vấn đề thuế giá trị gia tăng (GTGT) hoàn trả.
  • Ngô Thị Thu Hương và Trần Quỳnh Hương (2012) đối chiếu các điểm khác biệt giữa IAS 17 và chuẩn mực Mỹ FAS 13 trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán.
  • Phạm Thị Kiều Trang và Nguyễn Hữu Ánh (2013) trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển so sánh VAS 06 và IAS 17, chỉ ra khoảng trống về quy định cho thuê tài chính đối với bên cho thuê là nhà sản xuất hoặc doanh nghiệp thương mại.
  • Nguyễn Trung Lập (2007) trên Tạp chí Kế toán nghiên cứu về mua nợ phải thu nhưng chỉ đứng trên giác độ bên mua nợ.
  • Nhóm các bài báo của Phạm Thị Bích Chi (2001), Hà Thị Tường Vy và Nguyễn Thu Hà (2004), Nguyễn Thị Hòa (2004), Nguyễn Thị Lời (2004) nghiên cứu kế toán tài sản cố định thuê tài chính hoặc thuê hoạt động nhưng hoàn toàn khu biệt ở góc độ bên đi thuê.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng kế toán tại bên cho thuê; làm rõ các nguyên tắc đo lường, ghi nhận nợ phải thu, lãi dự thu, suy giảm giá trị tài sản và xử lý kế toán các phương thức CTTC đặc thù (hợp vốn, bắc cầu, giáp lưng, bán nợ phải thu) trong các công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết về thuê tài sản theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17 (IASC/IASB), Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 06 (VAS 06 - ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ-BTC), Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 và Thông tư số 09/2006/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Bản chất CTTC được xác định là một giao dịch tín dụng trung và dài hạn bằng hiện vật, trong đó bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích kinh tế gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, trong khi vẫn nắm giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng.

Phương pháp luận chung của luận án dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và thống kê mô tả thực chứng:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng các phương pháp phân tích văn bản pháp lý, hệ thống hóa lý thuyết, đối chiếu so sánh chuẩn mực kế toán (IAS 17, FAS 13, UK GAAP, VAS 06), phương pháp diễn giải và quy nạp. Tác giả áp dụng phương pháp quan sát trực tiếp để ghi nhận quy trình giao dịch, mô hình tổ chức bộ máy quản lý và hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán tại các đơn vị khảo sát.
  • Phương pháp khảo sát, phỏng vấn: Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn cán bộ quản lý và nhân viên chuyên môn thuộc các phòng ban (Tài chính kế toán, Quan hệ khách hàng, Kinh doanh) tại 07 công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Tác giả sử dụng 2 bộ mẫu phiếu: Phiếu điều tra Phụ lục 1b dành cho nhà quản lý và Phiếu điều tra Phụ lục 1a dành cho nhân viên. Tổng cộng có 21 phiếu điều tra được phát ra và thu về đầy đủ (đạt tỷ lệ 100%).
  • Xử lý dữ liệu: Toàn bộ thông tin định lượng từ khảo sát và báo cáo tài chính được tổng hợp, phân tổ thống kê và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010, sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính toán số tuyệt đối, số tương đối và tỷ lệ cơ cấu).

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản pháp luật về hoạt động CTTC và chế độ kế toán từ năm 1995 đến năm 2015; hệ thống chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên giai đoạn 2008–2015 của 07 công ty CTTC; số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam; các giáo trình kế toán ngân hàng và bài báo chuyên ngành.
  • Dữ liệu sơ cấp: Kết quả thu được từ 21 phiếu phỏng vấn và biên bản ghi chép phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại và thư điện tử với các nhà quản lý, kiểm soát viên và kế toán viên tại 07 đơn vị nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành hoạt động cho thuê từ thời cổ đại (khoảng năm 2000 TCN tại Sumerians, Lưỡng Hà cổ đại; năm 1800 TCN tại Babylonia). Giao dịch cho thuê hiện đại phát triển từ thập niên 50 của thế kỷ XIX, với công ty CTTC chuyên nghiệp đầu tiên là United States Leasing Corporation thành lập tại Mỹ vào tháng 5/1952. Tại Anh, hợp đồng cho thuê đầu tiên ký năm 1960 trị giá 180.000 bảng Anh. Tại châu Á, công ty Orient Leasing Corporation ra đời tại Nhật Bản năm 1963; quy mô hợp đồng của 31 công ty cho thuê lớn nhất Nhật Bản tăng từ 726 triệu USD năm 1970 lên 7.500 triệu USD năm 1981.

Chương này trình bày các tiêu chuẩn nhận diện CTTC theo IAS 17 (gồm 5 tiêu chuẩn chính và 3 trường hợp kết hợp bổ sung), FASB của Mỹ (thời hạn thuê $\ge$ 75% thời gian hoạt động ước tính, giá trị hiện tại $\ge$ 90% giá trị tài sản), và Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 (thời hạn thuê ít nhất bằng 60% thời gian trích khấu hao, tổng tiền thuê ít nhất bằng giá trị tài sản tại thời điểm ký hợp đồng).

Luận điểm quan trọng là CTTC mang bản chất cấp tín dụng hiện vật, có sự tách biệt tuyệt đối giữa quyền sở hữu pháp lý (thuộc bên cho thuê) và quyền sử dụng (thuộc bên thuê). Tác giả tổng hợp 3 bảng đối chiếu nhằm khu biệt hoạt động CTTC với các hình thức kinh tế tương đồng:

Tiêu chí Cho thuê hoạt động Cho thuê tài chính
Thời gian Ngắn Trung và dài hạn; chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích
Giá trị Nhỏ Lớn (mục đích tài trợ vốn)
Quyền hủy ngang hợp đồng Có Không
Trách nhiệm bảo trì Thuộc người cho thuê Thuộc người thuê
Chuyển quyền sở hữu khi kết thúc Không Có thể có
Trách nhiệm rủi ro với tài sản Người cho thuê Người thuê
Tiêu chí Cho thuê tài chính Tín dụng ngân hàng
Quyền sở hữu trong thời hạn cấp tín dụng Người cho thuê Người vay
Quyền sở hữu sau thời hạn cấp tín dụng Người thuê Người vay
Đối tượng cấp tín dụng Tài sản Tiền
Cầm cố và thế chấp Không Có
Cách thức xử lý khi không trả được nợ Kiện tụng về thiết bị, thay đổi người thuê Kiện tụng và tịch thu tài sản thế chấp
Thời hạn tài trợ Trung và dài hạn Ngắn, trung và dài hạn
Đảm bảo Giá trị và tầm quan trọng của thiết bị Thế chấp tài sản
Mức độ rủi ro Có thể thu hồi tài sản Khó thu hồi vốn cho vay khi có rủi ro
Khả năng kiểm soát vốn cấp tín dụng Dễ dàng hơn (cấp bằng tài sản) Khó kiểm soát
Mức độ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Dễ Khó
Tiêu chí Cho thuê tài chính Bán trả góp
Chủ thể cấp vốn Tổ chức tín dụng Doanh nghiệp sản xuất, tổ chức bán lẻ
Hình thức vốn tài trợ Vốn bằng hiện vật Vốn bằng hiện vật
Tính chất pháp lý với tài sản Người cho thuê là chủ sở hữu tài sản Người nhận tài sản là chủ sở hữu
Thời hạn hợp đồng Trung và dài hạn Ngắn và trung hạn
Quyền sở hữu tài sản Tổ chức tín dụng nắm quyền sở hữu Thuộc doanh nghiệp sản xuất hoặc người mua
Chuyển giao tài sản khi kết thúc Có thể chuyển giao, thuê tiếp hoặc thu hồi Tài sản thuộc quyền sở hữu người mua

Về phân loại, luận án phân tích các hình thức:

  • Theo chủ thể: Cho thuê hai bên (trực tiếp), cho thuê ba bên (chiếm 80% giao dịch toàn cầu).
  • Theo tính chất giao dịch: Mua và cho thuê lại (bên thuê bán tài sản rồi thuê lại chính tài sản đó); cho thuê hợp vốn (áp dụng khi giá trị tài sản vượt hạn mức một công ty, gồm 4 chủ thể: bên đầu mối cho thuê, bên cho thuê quản lý, bên đầu mối thanh toán, bên thành viên); cho thuê bắc cầu (bên cho thuê đi vay tổ chức tín dụng đến 80% giá trị tài sản); cho thuê giáp lưng (bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại với sự đồng ý của bên cho thuê).

Về hạch toán, quy trình kế toán được phân kỳ qua 4 giai đoạn: Giai đoạn khởi đầu (ghi nhận chi phí thẩm định, đàm phán); Giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng (ghi nhận tài sản CTTC, nợ gốc phải thu, vốn góp hợp vốn hoặc nợ vay bắc cầu); Giai đoạn thực hiện (thu nợ gốc, tính và thu lãi CTTC, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý bán nợ theo Thông tư 09/2006/TT-NHNN); Giai đoạn kết thúc (chuyển giao sở hữu, gia hạn hợp đồng, thu hồi tài sản, xử lý tài sản khi khách hàng vi phạm hoặc mất mát). Chương 1 cũng phân tích rủi ro tài chính, rủi ro giá trị còn lại của tài sản và kinh nghiệm kế toán từ IAS 17, UK GAAP.

Chương 2: Thực trạng kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam

Chương 2 mô tả quá trình hình thành hệ thống công ty CTTC tại Việt Nam từ năm 1995. Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước ngày 30/12/2015, toàn thị trường có 11 công ty CTTC gồm 07 công ty trực thuộc Ngân hàng Thương mại Nhà nước, 03 công ty có vốn đầu tư nước ngoài và 01 công ty TNHH MTV thuộc Công nghiệp Tàu thủy. Luận án đi sâu khảo sát thực trạng kế toán tại 07 công ty trực thuộc các NHTM.

Về cơ sở pháp lý, chương 2 đối chiếu các quy định của Chuẩn mực kế toán VAS 06 và Chế độ kế toán các tổ chức tín dụng. Tác giả chỉ ra các điểm nghẽn trong thực tiễn hạch toán qua từng giai đoạn:

  • Giai đoạn khởi đầu: Các chi phí ban đầu (thẩm định dự án, công chứng, định giá) chưa được xử lý đồng nhất giữa các công ty; một số đơn vị ghi nhận toàn bộ vào chi phí quản lý trong kỳ thay vì vốn hóa vào giá trị khoản phải thu để phân bổ.
  • Giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng: Vướng mắc lớn phát sinh từ việc hạch toán thuế GTGT đầu vào của tài sản CTTC. Xử lý giá trị tài sản trong nghiệp vụ "Mua và cho thuê lại" còn bất cập khi nhiều công ty ghi nhận như một giao dịch mua bán tài sản cố định thông thường mà không phản ánh đúng bản chất giao dịch cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản.
  • Giai đoạn thực hiện hợp đồng: Việc xác định lãi dự thu và thời điểm ngừng dự thu chưa phản ánh đúng mức độ rủi ro tín dụng. Khi phát sinh nợ quá hạn (từ nhóm 2 trở lên theo quy định của Ngân hàng Nhà nước), việc chuyển nhóm nợ, thoái thu lãi dự thu và trích lập dự phòng cụ thể, dự phòng chung bộc lộ nhiều sai lệch giữa các đơn vị. Các nghiệp vụ bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC) hoặc Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thiếu tài khoản kế toán phản ánh các điều khoản truy đòi và quyền quản lý tài sản gắn liền.
  • Giai đoạn kết thúc hợp đồng: Việc ghi nhận giá trị tài sản thu hồi khi chấm dứt hợp đồng trước hạn do bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán gặp nhiều lúng túng. Các công ty chưa có quy chuẩn rõ ràng để đánh giá lại giá trị hợp lý của tài sản tịch thu, dẫn đến phản ánh thiếu chính xác các khoản lãi hoặc lỗ thanh lý.
  • Trình bày và công bố thông tin: Báo cáo tài chính của các công ty CTTC Việt Nam chưa thuyết minh chi tiết về cơ cấu phân loại nợ theo rủi ro, phân kỳ dòng tiền thu nhập tiền thuê tối thiểu trong tương lai và giá trị còn lại không được bảo đảm theo thông lệ quốc tế.

Tác giả chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế gồm: Khung khổ pháp lý giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước còn thiếu đồng bộ; Chuẩn mực VAS 06 ban hành từ năm 2002 chưa được cập nhật theo sự thay đổi của chuẩn mực quốc tế; hệ thống phần mềm kế toán tại các công ty CTTC chủ yếu thừa hưởng từ ngân hàng mẹ, thiếu các phân hệ chuyên biệt theo dõi hợp đồng CTTC phức tạp; trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kế toán về các giao dịch phái sinh và mô hình định giá còn hạn chế.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển thị trường CTTC đến năm 2020 gắn liền với tái cơ cấu tổ chức tín dụng và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp nghiệp vụ:

  1. Giải pháp về phương pháp xác định giá trị CTTC, tính và hạch toán lãi dự thu: Đề xuất phương pháp tính toán giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu bằng lãi suất ngầm định trong hợp đồng; áp dụng phương pháp lãi suất thực tế để phân bổ doanh thu lãi tiền thuê qua các kỳ kế toán; hoàn thiện quy tắc ghi nhận lãi dự thu, quy định chặt chẽ thời điểm ngừng dự thu và hạch toán thoái thu lãi đối với các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm khả năng thanh toán.
  2. Giải pháp về ghi nhận suy giảm giá trị tài sản CTTC: Xây dựng cơ chế trích lập dự phòng tổn thất tài sản cho thuê khi giá trị có thể thu hồi thấp hơn giá trị ghi sổ; hạch toán chi phí suy giảm giá trị tài sản đối với các tài sản thu hồi chờ xử lý.
  3. Giải pháp về đo lường và ghi nhận các chỉ tiêu kế toán: Hướng dẫn hạch toán chi phí trực tiếp ban đầu theo hướng vốn hóa vào nợ gốc phải thu; chuẩn hóa quy trình xử lý kế toán thuế GTGT đầu vào gắn với nghĩa vụ hoàn trả của bên thuê; xử lý chênh lệch giá trị hợp lý và giá trị còn lại trong giao dịch mua và cho thuê lại.
  4. Giải pháp về phương pháp kế toán theo các phương thức CTTC đặc thù: Thiết lập sơ đồ tài khoản và quy trình định khoản chi tiết cho 4 phương thức nghiệp vụ:
    • Cho thuê hợp vốn: Quy định phương pháp hạch toán vốn góp và phân phối thu nhập giữa bên đầu mối thanh toán và các bên cho thuê thành viên.
    • Cho thuê bắc cầu: Hạch toán các khoản vay vốn từ tổ chức tín dụng khác, thế chấp tài sản và điều chuyển luồng tiền thanh toán nợ vay từ nguồn thu tiền thuê.
    • Cho thuê giáp lưng: Phản ánh trách nhiệm liên đới của bên thuê ban đầu và xử lý kế toán khi chuyển giao quyền sử dụng tài sản sang bên thuê thứ hai.
    • Bán khoản nợ phải thu từ hợp đồng CTTC: Xây dựng phương pháp hạch toán nghiệp vụ bán nợ có quyền truy đòi và không có quyền truy đòi theo đúng tinh thần Thông tư 09/2006/TT-NHNN, theo dõi riêng khoản dự phòng rủi ro và các khoản thanh toán chuyển tiếp.

Về điều kiện thực hiện, chương 3 kiến nghị:

  • Đối với Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành: Ban hành thông tư hướng dẫn kế toán riêng cho các công ty CTTC; cập nhật VAS 06 theo hướng tiệm cận IFRS; hoàn thiện cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản thu hồi.
  • Đối với các Ngân hàng Thương mại: Tái cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho các công ty CTTC con; đầu tư đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin kế toán quản trị; tăng cường công tác thanh tra, kiểm toán nội bộ và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho nhân viên kế toán.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các lý luận cơ bản về kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC dưới góc độ bên cho thuê; làm rõ bản chất tín dụng hiện vật, đặc trưng kinh tế và tiêu chuẩn nhận diện giao dịch CTTC; phân tích mô hình ghi nhận doanh thu, chi phí và tài sản của bên cho thuê dựa trên các lý thuyết và thông lệ kế toán quốc tế (IAS 17, UK GAAP, FASB).
  • Về mặt thực tiễn: Khảo sát, phân tích toàn diện bức tranh thực trạng kế toán tại 07 công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại Việt Nam giai đoạn 2008–2015; nhận diện các bất cập trong xử lý chi phí ban đầu, thuế GTGT, xác định lãi dự thu, trích lập dự phòng và hạch toán bán nợ xấu qua VAMC/DATC.
  • Về giải pháp: Đề xuất hệ thống phương pháp hạch toán cụ thể, nhất quán cho các phương thức CTTC phức tạp (hợp vốn, bắc cầu, giáp lưng, mua và cho thuê lại, bán khoản phải thu); đưa ra các kiến nghị có tính khả thi đối với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các NHTM chủ quản nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý và tổ chức công tác kế toán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi không gian: Do tính chất đặc thù của hoạt động CTTC tại Việt Nam, luận án mới chỉ tiến hành khảo sát thực nghiệm tại 07 công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại, chưa mở rộng điều tra tại 04 công ty CTTC độc lập và công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Về phạm vi nội dung: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu dưới giác độ kế toán tài chính phục vụ lập và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của bên cho thuê, chưa đi sâu giải quyết các nội dung kế toán quản trị như định giá phí thuê, phân tích điểm hòa vốn hay kiểm soát chi phí hoạt động CTTC.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ các loại hình tổ chức CTTC tại Việt Nam, bao gồm khối doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài.
  • Nghiên cứu thiết lập hệ thống kế toán quản trị chi tiết trong các công ty CTTC.
  • Nghiên cứu tác động của chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 16 (chuẩn mực thay thế IAS 17) đối với công tác kế toán và trình bày báo cáo tài chính của các công ty CTTC tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên khối ngành Kinh tế, Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc giảng dạy và nghiên cứu về kế toán ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng; đặc biệt là phần tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận và hệ thống bảng đối chiếu phân biệt các hình thức cấp tín dụng tại Chương 1.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước): Nội dung đánh giá thực trạng tại Chương 2 và các kiến nghị tại Chương 3 cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi Chuẩn mực kế toán VAS 06 và xây dựng chế độ kế toán chuyên ngành phù hợp cho hệ thống công ty CTTC.
  • Đối với ban lãnh đạo, kế toán trưởng và chuyên viên tài chính tại các công ty CTTC: Các giải pháp định khoản nghiệp vụ cho thuê hợp vốn, bắc cầu, giáp lưng và bán nợ tại Chương 3 có thể vận dụng trực tiếp vào việc xây dựng quy chế tài chính, quy trình luân chuyển chứng từ và chuẩn hóa xử lý nghiệp vụ tại đơn vị.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động cho thuê tài chính khác biệt như thế nào so với hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng thương mại?
Khác biệt căn bản nhất nằm ở hình thức cấp tín dụng và quyền sở hữu tài sản: Cho vay ngân hàng là hình thức cấp tín dụng bằng tiền, bên vay nắm quyền sở hữu tài sản và phải cung cấp tài sản bảo đảm (cầm cố, thế chấp). Ngược lại, CTTC là hình thức cấp tín dụng bằng hiện vật (máy móc, thiết bị); bên cho thuê nắm giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng, bên thuê chỉ nắm quyền sử dụng kinh tế và không cần thế chấp tài sản khác.

Những tiêu chuẩn định lượng nào được pháp luật Việt Nam quy định để nhận diện một giao dịch cho thuê tài chính?
Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (số 47/2010/QH12), một giao dịch được ghi nhận là CTTC khi thỏa mãn ít nhất một trong các điều kiện, trong đó có hai tiêu chuẩn định lượng cụ thể: Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để trích khấu hao tài sản đó; và tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

Quy trình kế toán hoạt động CTTC tại bên cho thuê được phân chia thành những giai đoạn nào?
Quy trình kế toán CTTC tại bên cho thuê được chia thành 4 giai đoạn nối tiếp: (1) Giai đoạn khởi đầu cho thuê tài chính (tập hợp và ghi nhận chi phí phát sinh trước khi ký hợp đồng); (2) Giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng (ghi nhận tài sản, nợ phải thu và giải ngân vốn); (3) Giai đoạn thực hiện hợp đồng (thu nợ gốc, tính và thu lãi, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro); (4) Giai đoạn kết thúc hợp đồng (xử lý chuyển giao quyền sở hữu, gia hạn thuê hoặc thu hồi tài sản).

Luận án sử dụng dữ liệu thực nghiệm nào để đánh giá thực trạng kế toán tại Việt Nam?
Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo tài chính, tài liệu kế toán giai đoạn 2008–2015 của 07 công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại Việt Nam, kết hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Cho thuê tài chính. Đồng thời, tác giả thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua 21 phiếu khảo sát phỏng vấn hợp lệ từ các cán bộ quản lý và nhân viên kế toán tại 07 công ty này, xử lý bằng phương pháp phân tổ thống kê trên phần mềm Excel 2010.

Những phương thức nghiệp vụ CTTC phức tạp nào được tác giả tập trung giải quyết phương pháp kế toán?
Luận án tập trung xây dựng phương pháp hạch toán chi tiết cho 4 phương thức nghiệp vụ đặc thù gồm: Phương thức mua và cho thuê lại (Buying and lease back), phương thức cho thuê hợp vốn (Syndicated lease), phương thức cho thuê bắc cầu (Leveraged lease), phương thức cho thuê giáp lưng (Sublease) và nghiệp vụ bán khoản nợ phải thu có quyền truy đòi theo Thông tư 09/2006/TT-NHNN.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Nguyễn Bích Hiền là công trình nghiên cứu chuyên sâu về kế toán hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam dưới góc độ của bên cho thuê. Bằng phương pháp kết hợp nghiên cứu định tính và khảo sát thực tế tại 07 công ty CTTC trực thuộc Ngân hàng Thương mại, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, chỉ ra các khoảng trống và bất cập trong thực tiễn hạch toán giai đoạn 2008–2015. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đã cung cấp phương pháp kế toán cụ thể cho các giao dịch CTTC đa dạng, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại các công ty CTTC trong tiến trình hội nhập kinh tế.