Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cho đến nay, nhờ thành công của đường lối đổi mới và chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã vận động và thu hút được một lượng đáng kể vốn ODA phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội. Nguồn vốn ODA (khoảng 85% vốn vay và 15% vốn không hoàn lại) đã được sử dụng để phục hồi, nâng cấp và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Nguồn vốn này đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết một số vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục và khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, cải cách hành chính, pháp luật, hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất.
Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã được đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Một trong những thử thách lớn đối với các tổ chức phát triển quốc tế là đảm bảo các dự án do họ tài trợ được thực hiện thành công và đạt được các mục tiêu kỳ vọng. Điều này đòi hỏi công tác quản lý dự án phải tốt. Trong vòng bốn thập kỷ gần đây, quản lý dự án ở các nước phát triển thực sự được khẳng định trong đời sống kinh tế xã hội như lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp đặc biệt trong điều kiện thị trường.
Hiện nay, quản lý dự án được thừa nhận hiển nhiên trên khắp thế giới như một phương pháp luận công nghệ và đầu tư kinh doanh. Quản lý dự án hiệu quả được thực hiện thông qua các công cụ giám sát, đánh giá. Đây chính là hai công cụ quản lý hữu hiệu nhất giúp cho các nhà quản lý ODA có thể lập kế hoạch và đưa ra những thay đổi cần thiết và đảm bảo được tiến trình, kết quả và các tác động của dự án ODA như đã đề ra. Chính vì thế, các tổ chức phát triển quốc tế, các tác giả chuyên về quản lý dự án đã nghiên cứu, đề ra các biện pháp nhằm phát huy thế mạnh của giám sát, đánh giá và khuyến khích sử dụng các công 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụ này thường xuyên, liên tục theo kế hoạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện dự án.
Có thể kể tới nghiên cứu của các chuyên gia giàu kinh nghiệm thuộc Ngân hàng Thế giới như Mari Clark, Rolf Sartorius trong ấn phẩm đầu tiên của tài liệu: “Giám sát và đánh giá: Một số công cụ, phương pháp và cách tiếp cận" và sự đóng góp của Francois Binder, Osvaldo Feinstein, Ronnie Hammad, Jody Kusek, Linda Morra, Ritva Reinikka, Gloria Rubio, Elizabeth White và chuyên gia tư vấn Michael Bamberger đóng góp nhiều trong ấn phẩm lần 2. Đây là tài liệu nâng cao kiến thức và tăng cường mối quan tâm đối với công tác giám sát, đánh giá trong các dự án thông qua việc phân tích, làm rõ mục đích và cách sử dụng hiệu quả công cụ, phương pháp, cách tiếp cận giám sát, đánh giá. Tài liệu cũng nghiên cứu và phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, chi phí, kỹ năng và thời gian cần thiết cho giám sát, đánh giá, đồng thời giới thiệu một số phương pháp thu thập số liệu, các khung phân tích, các loại hình đánh giá và rà soát. Một số tài liệu nghiên cứu khác về giám sát, đánh giá dự án đáng chú ý như: "Sách hướng dẫn quản lý thực hiện dự án" của Ngân hàng phát triển Châu Á, “Cẩm nang về Giám sát và đánh giá theo kết quả" của Cơ quan đánh giá thuộc Chương trình phát triển Liên hợp quốc, “Phương pháp đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư” của Viện hàn lâm Kinh tế và Đầu tư xây dựng Liên bang Nga, “Thế giới quản lý dự án” của X.
Xác định ODA là một nguồn lực quan trọng, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo sát sao việc quản lý và sử dụng nguồn vốn này nhằm phát huy mức cao nhất hiệu quả nguồn vốn, đồng thời phòng tránh những tiêu cực có thể xảy ra. Trong những năm gần đây, khuôn khổ pháp lý về quản lý và sử dụng vốn ODA đã được hình thành và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi phù hợp với các văn bản pháp qui hiện hành của Nhà nước. Có thể kể tới các văn bản qui định chính về quản lý và sử dụng vốn ODA của Việt Nam như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ ban hành Qui chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là Nghị định 131/2006/NĐ-CP); - Thông tư số 04/2007/TT-BKH ngày 30 tháng 7 năm 2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện Qui chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (Ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ); - Quyết định số 555/2007/QĐ-BKH ngày 30 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Khung theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả tình hình thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010; - Quyết định số 803/2007/QĐ-BKH ngày 30 tháng 7 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Chế độ báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA; - Quyết định số 1248/2007/QĐ-BKH ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Khung theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006 – 2010. Nghị định 131/2006/NĐ-CP ra đời, thay thế Nghị định 17/2001/NĐ-CP (trước đó là Nghị định 87/CP và Nghị định 20/CP), đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc và cụ thể các qui định của Chính phủ trong việc quản lý và sử dụng ODA hơn các nghị định trước, bảo đảm sự thực hiện nhất quán, giảm thiểu các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định của các cơ quan liên quan.
Cùng với sự hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp qui, Nghị định 131/2006/NĐ-CP đã góp phần tăng cường công tác quản lý các dự án ODA trong thời gian gần đây và giúp cho việc thực hiện các dự án ODA đúng hướng và đạt hiệu quả. Sử dụng hiệu quả các công cụ trong quản lý dự án như giám sát, đánh giá là biện pháp được xác định mang lại các kết quả thiết thực cho việc thực 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện các dự án ODA nói chung, các dự án ODA về giáo dục nói riêng, trong đó có Dự án PEDC. Đây cũng là mục đích hướng tới của luận văn. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý được đề cập một cách chung nhất là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường. Như vậy, quản lý có phạm vi hoạt động lớn, được chia thành 3 dạng chính là: - Quản lý giới vô sinh như nhà xưởng, máy móc, đồng ruộng; - Quản lý giới sinh vật như cây trồng, vật nuôi; và - Quản lý xã hội loài người như doanh nghiệp, tổ chức, gia đình. Luận văn đề cập chủ yếu đến dự án, là một tổ chức cụ thể, nên tập trung vào dạng quản lý tổ chức. Thuật ngữ tổ chức có tính đa nghĩa nên ở đây chỉ đề cập đến "Tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một người riêng lẻ không thể nào đạt đến" [15, tr.
Mác đã khẳng định: "Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một qui mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý". Quản lý có thể được định nghĩa theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ: - "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [17, tr.
Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn, gắn với hoạt động cụ thể: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [15, tr. Lôgic của khái niệm quản lý tổ chức Quá trình quản lý Lập kế hoạch Kết quả: - Đạt mục đích Các nguồn Kiểm tra Phối hợp Tổ chức - Đạt mục tiêu: lực: hoạt động + Sản phẩm - Nhân lực + Dịch vụ - Tài lực - Mục tiêu đúng - Vật lực Lãnh đạo - Hiệu quả cao - Thông tin Gắn liền với khái niệm quản lý là khái niệm về người quản lý. Khái niệm quản lý giúp xác định được vai trò, trách nhiệm và những hoạt động cụ thể của người quản lý trong việc điều hành tổ chức và các hoạt động của tổ chức nhằm giúp tổ chức đi đúng hướng và đạt được những mục tiêu đã đề ra. Người quản lý được hiểu ".
là nhân vật có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích" [15, tr. Đối tượng quản lý Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó mà tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động. Như vậy, xét về thực chất, quản lý tổ chức là quản lý con người, biến sức mạnh của nhiều người thành sức mạnh chung của tổ chức để đi tới mục đích. Với đối tượng là những mối quan hệ con người, quản lý tổ chức là dạng quản lý phức tạp nhất.
Mục đích quản lý Người quản lý cần thực hiện được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất, tức là tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức và các thành viên của nó. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.