Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO LÃNH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm chung về bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại Trước hết, bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu là một loại hình bảo lãnh của Ngân hàng, vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng. Ở trên góc độ pháp lý, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng đã được đề cập bởi nhiều văn bản pháp lý. Trong số đó, điển hình là một số khái niệm sau: Điều 361, Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Tại Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 thì bảo lãnh ngân hàng được hiểu như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”. Điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 quy định về bảo lãnh ngân hàng của Ngân hàng nhà nước cũng đưa ra khái niệm tương tự: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”. Như vậy, khái niệm bảo lãnh ngân hàng được hiểu trên các góc độ như sau: Thứ nhất, dưới góc độ kinh tế học, bảo lãnh là một nghiệp vụ cấp tín dụng, bởi vì thông qua nghiệp vụ bảo lãnh tổ chức tín dụng có thể giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu về vốn của mình trong kinh doanh hoặc trong tiêu dùng; Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, là cơ sở để xây dựng và xử lý các vấn đề về tài chính của các bên trong giao dịch dân sự.
Thứ ba, hình thức của bảo lãnh ngân hàng bao gồm hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh và hình thức cam kết khác do các bên tự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật Việt Nam. Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh còn Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh hoặc giữa bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và các bên có liên quan (nếu có). Bảo lãnh thanh toán là cam kết của Ngân hàng với Bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho Bên được bảo lãnh trong trường hợp Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn. Thuế xuất nhập khẩu là thuế đánh trên đối tượng chịu thuế là hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.
Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu là loại hình bảo lãnh thanh toán, trong đó, Ngân hàng phát hành Thư bảo lãnh để cam kết với cơ quan Hải quan đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế khi đến thời hạn nộp thuế (bao gồm tiền thuế và tiền chậm nộp (nếu có)) của Bên được bảo lãnh đối với Ngân sách Nhà nước. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm nghiệp vụ bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu mang tính độc lập cao: Mặc dù quan hệ trong bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc nhau, giữa Ngân hàng, doanh nghiệp và cơ quan Hải quan, tuy nhiên quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia mang tính độc lập tương đối.
Đây chính là một đặc điểm nổi bật của bảo lãnh nói chung và bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu nói riêng. Điều này có nghĩa là việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phụ thuộc vào bất cứ giao dịch hay yếu tố nào ngoài giao dịch bảo lãnh. Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này có yêu cầu và có bằng chứng chứng minh sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh. Khi có yêu cầu thanh toán, ngân hàng phải thanh toán ngay cho bên nhận bảo lãnh, sau đó mới ra quyết định thu nợ đối với bên được bảo lãnh.
Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu là hoạt động ngoại bảng: Về bản chất, bảo lãnh nói chung và bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu là hình thức tài trợ bằng uy tín, qua đó bên được bảo lãnh có thể thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh để thu lợi. Khi thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu, Ngân hàng chưa phải xuất quỹ tiền mặt ngay do đó bảo lãnh được coi như một hoạt động ngoại bảng vì hoạt động của nó không làm ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, quá thời hạn nộp thuế được bảo lãnh mà Doanh nghiệp không thực hiện nộp tiền thuế cho Ngân sách Nhà nước thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuế cho Ngân sách Nhà nước. Đó cũng chính là lúc ngân hàng phải thực sự sử dụng tài chính của mình để thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh, điều này làm ảnh hưởng tới bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Khi đó, hoạt động bảo lãnh đã được chuyển từ tài sản ngoại bảng vào tài sản nội bảng. Như vậy, nếu hoạt động bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu có chất lượng kém không những có ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu tiến hành trên cơ sở chứng từ: Tất cả các hoạt động của ngân hàng đều dựa trên cơ sở chứng từ và hoạt động bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu cũng không phải là ngoại lệ. Cam kết bảo lãnh của ngân hàng cũng là một văn bản mà việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng dựa trên văn bản đó.
Do đó, khi người thụ hưởng bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thanh toán tiền thuế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước thì ngân hàng phát hành thư bảo lãnh phải có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều kiện của thư bảo lãnh. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán nếu chứng từ bất hợp lệ hay những điều kiện và điều khoản bảo lãnh không được đáp ứng. Trường hợp bên nhận bảo lãnh xuất trình được tài liệu hợp lệ, phù hợp với những điều kiện, điều khoản quy định trong thư bảo lãnh và ngân hàng kiểm tra thấy hợp lệ thì ngân hàng phải thanh toán cho bên thụ hưởng. Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu tiến hành trên cơ sở điện tử: Bên cạnh loại hình phát hành bảo lãnh truyền thống bằng văn bản thì bảo lãnh thuế bằng phương thức điện tử đang trở thành loại hình ưu việt bởi tính nhanh chóng, chính xác đồng thời tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí của Doanh nghiệp.
Bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu không có thời hạn bảo lãnh: Vì Ngân hàng bảo lãnh phải có trách nhiệm đến cùng cho đến khi số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt (nếu có) của Bên được bảo lãnh được nộp hết vào Ngân sách Nhà nước, cho nên trong trường hợp quá thời hạn nộp thuế được bảo lãnh mà Bên được bảo lãnh không nộp thuế, thì Ngân hàng bảo lãnh không những phải thực hiện thay nghĩa vụ đối với số tiền thuế bảo lãnh, mà còn phải thực hiện nghĩa vụ đối với cả tiền chậm nộp, tiền phạt (nếu có). Vai trò và các quan hệ của bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu 1. Các mối quan hệ trong hợp đồng bảo lãnh Tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất 3 chủ thể, đó là: Bên phát hành bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên thụ thưởng). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh là Cơ quan Hải quan, bao gồm các Cục Hải quan và Chi cục Hải quan thuộc Tổng cục Hải quan. Các chủ thể tham gia có mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng là: hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh. Cụ thể như sau: (1) Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh (2) (3) Bên bảo lãnh (NHTM) Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các chủ thể trong bảo lãnh ngân hàng (Nguồn: Giáo trình Ngân hàng thương mại, Phan Thị Thu Hà, 2004) (1) Hợp đồng kinh tế: Hoạt động bảo lãnh được phát sinh từ mối quan hệ kinh tế giữa Bên nhận bảo lãnh và Bên được bảo lãnh.
Hai chủ thể này thỏa thuận, kí kết hợp đồng kinh tế. Trường hợp Bên được bảo lãnh đáp ứng được yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước là được sử dụng bảo lãnh để chậm nộp tiền thuế xuất nhập khẩu (thay vì phải nộp ngay tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước trước khi được thông quan); theo đó sẽ phát sinh ra các mối quan hệ tiếp theo giữa các chủ thể. (2) Hợp đồng cấp bảo lãnh: Quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh.