Lời mở đầu, bài khóa luận gồm 3 chương: Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI BIDV Chƣơng 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẮM PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI BIDV 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo lãnh ngân hàng, song về bản chất đều nêu bật lên nghĩa vụ của người phát hành phải thanh toán cho người nhận bảo lãnh nếu người đó có bằng chứng chứng minh được người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết. Cụ thể: Theo Điều 361, Luật Dân sự Việt Nam, “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” Dựa vào cơ sở là Luật Dân sự trên, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng quy định về khái niệm bão lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là một trong hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay.” Cụ thể hơn, NHNN đã ban hàng Quyết định số 26/2006/QĐ- NHNN ngày 26/06/2006, tại Điều 2, có quy định rõ: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiên đã được trả.” 4 Các bên tham gia bảo lãnh: Có ít nhất 3 chủ thể tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng: - Người bảo lãnh – The guarantor: là người phát hành thư bảo lãnh (ngân hàng) theo yêu cầu của khách hàng. - Người được bảo lãnh – The principal: là người đề nghị ngân hàng phát hành thư bảo lãnh. - Người nhận bảo lãnh – The Beneficiary: là người được ngân hàng bồi thương khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Mối quan hệ 3 chủ thể trên được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể bảo lãnh ngân hàng NGÂN HÀNG BẢO LÃNH (2) (3) Ngƣời đƣợc (1) Ngƣời nhận bảo lãnh bảo lãnh Trong đó: (1) Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh là hợp đồng gốc.
(2) Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh. Người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho người thụ hưởng bảo lãnh. (3) Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với người thụ hưởng bảo lãnh.2 Sự hình thành và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh Bảo lãnh ra đời từ rất sớm nhưng bảo lãnh ngân hàng chỉ thực sự xuất hiện vào những năm 60 của thế kỉ XX, tại thị trường nội địa nước Mỹ. Tuy nhiên đến những 5 năm thập niêm 70, bão lãnh ngân hàng mới bắt đầu được sử dụng trong thương mại quốc tế.
Nguồn gốc ra đời bảo lãnh là sự phát triển thịnh vượng của ngành công nghiệp dầu mỏ khiến cho các quốc gia Trung Đông trở nên giàu có, ký kết ngày càng nhiều các hợp đồng có giá trị lớn với các nước phương Tây để củng cố, nâng cao cơ sở vật chất, cải cách nên kinh tế, quốc phòng,… Để đảm bảo an toàn cho giá trị, lợi ích của mình, các nước Trung Đông đòi hỏi phải có những có đảm bảo chắc chắn từ phía đối tác. Sự đảm bảo độc lập của các ngân hàng phương Tây thông qua nghiệp vụ bảo lãnh đã đáp ứng được yêu cầu của nhà xuất khẩu Trung Đông. Sau những năm 70, cùng với sự phát triển của giao dịch thương mại, bảo lãnh phát triển mạnh mẽ và trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro quan trọng, đặc biệt với sự phát triển của thương mại quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch kinh tế ngày càng đa dạng, nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế không chỉ còn là vấn đề hoàn thành giao dịch mà còn là an toàn cao, tiện tích, nhanh chóng… Điều này đặt ra một xu hướng đa dạng hóa, phát triển các loại hình bảo lãnh là tất yếu.
Ngày nay, bão lãnh ngân hàng được sử dụng rất linh hoạt, đa dạng, phong phú về loại hình, hình thức bảo lãnh như bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, … Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo lãnh xuất hiện muộn hơn khi nền kinh tế chuyển dịch sang cơ chế thị trường, dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển và hoàn thiện, và bắt đầu được áp dung tại các NHTM Việt Nam năm 1994. Sau 21 năm áp dụng, tuy còn mới mẻ, chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ, song vị trí của nghiệp vụ bảo lãnh đang dần được khẳng định. Sự phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh trong tương lai của các NHTM Việt Nam là điều hoàn toàn có thể nhận thức được.3 Phân loại nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng 1.1 Căn cứ vào mục đích a. Bảo lãnh dự thầu Bảo lãnh dự thầu là loại hình bảo lãnh nhằm đảm bảo lợi ích cho bên mời thầu, bù đắp những thiệt hại về thời gian, chi phí cho chủ thầu do những vi phạm của người đăng kí dự thầu gây ra như: rút đơn thầu, trúng thầu nhưng không ký tiếp hợp đồng 6 cung ứng, bổ sung thêm điều khoản trong hợp đồng sau khi trúng thầu so với ban đầu,… Đây cũng là một phương tiện thay thế cho việc ký quỹ của người tham gia dự thầu, đồng thời làm tăng uy tín, tính đảm bảo của bên dự thầu.
Ngân hàng cấp bảo lãnh cho bên dự thầu, như đã cấp một khoản vốn cho họ, và nếu trúng thầu, ngân hàng sẽ tiếp tục cấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bão lãnh đặt cọc. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng Bảo lãnh thực hiện hợp đồng ràng buộc người thực hiện hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, đồng thời phải bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Bảo lãnh này được sử dụng khá phổ biến trong thực tế và thường được sử dụng sau khi hết hiệu lực của bảo lãnh dự thầu. Giá trị của bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường bằng 10%-15% giá trị hợp đồng gốc và có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh bảo hành Bảo lãnh bảo hành là cam kết của ngân hàng phát hành bảo lãnh đối với người nhận bảo lãnh, trong trường hợp người cung cấp từ chối bảo hành đối với công trình, máy móc, thiết bị có sự cố. Khi đó, ngân hàng sẽ trả tiền cho người thụ hưởng thuê công ty khác sửa chữa, bảo hành. Loại bảo lãnh này thường được áp dụng trong xây dựng, xây lắp hoặc các hợp đồng nhập thiết bị đồng bộ để bảo hành máy móc, thiết bị. Giá trị bảo lãnh thường từ 5%-10% giá trị hợp đồng.
Bảo lãnh bảo hành có hiệu lực sau một thời gian kể từ ngày nghiệm thu hoàn thành công trình hoặc hoàn thành việc lắp đặt, chạy thử máy móc, thiết bị, thường 12- 24 tháng. Bảo lãnh tiền đặt cọc hoặc tiền ứng trước. Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp 7 đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay.
Bảo lãnh thanh toán Bảo lãnh thanh toán là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn. Bảo lãnh vay vốn Bảo lãnh vay vốn là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh. Bảo lãnh thuế nhập khẩu Bảo lãnh thuế nhập khẩu thực chất cũng là một bảo lãnh thanh toán, tuy nhiên cụ thể hơn về đối tượng khách hàng, hình thức phát hành bảo lãnh, đối tượng bảo lãnh: - Đối tượng bảo lãnh: Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng, khách hàng có hoạt động nhập khẩu không thường xuyên không đáp ứng đủ các điều kiện chậm nộp thuế theo quy định pháp luật. - Hình thức phát hành bảo lãnh: + Bảo lãnh riêng: là cam kết bảo lãnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho 1 tờ khai hải quan nhập khẩu, + Bảo lãnh chung: là cam kết bảo lãnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho từ 2 tờ khai hải quan nhập khẩu trở lên.
- Đối tượng bảo lãnh: Các loại thuế liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.2 Căn cứ vào theo phương thức phát hành a. Bảo lãnh trực tiếp 8 Là một bảo lãnh mà trong đó, NH phát hành bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho NH phát hành bảo lãnh. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào bảo lãnh cũng chỉ là mối quan hệ giữa 3 bên như trên. Nếu người thụ hưởng là nước ngoài, NH phục vụ người được bảo lãnh sẽ thông qua mối quan hệ đại lý của mình, yêu cầu một NH đóng trụ sở tại nước người thụ hưởng chuyển thư bảo lãnh (NH phục vụ người được bảo lãnh gọi là NH phát hành; NH có trụ sở tại nước người thụ hưởng là NH thông báo).