Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng bắt đầu phát triển trên thế giới từ đầu thập niên 1970 và dần xác lập vai trò quan trọng trong các giao dịch kinh tế toàn cầu. Tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, nghiệp vụ này được áp dụng từ năm 1994 nhưng mới thực sự mở rộng trong giai đoạn những năm 2000 - 2010 nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính. Do đặc tính là một cam kết ngoại bảng phức tạp, vừa mang bản chất cấp tín dụng vừa gắn liền với nhiều quan hệ hợp đồng độc lập và các yếu tố tài phán quốc tế, nghiệp vụ bảo lãnh luôn tiềm ẩn mức độ rủi ro cao đối với các tổ chức tín dụng.

Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn Cầu (GP Bank) – Chi nhánh Hoàn Kiếm, nghiệp vụ bảo lãnh đã được triển khai ngay từ khi chi nhánh đi vào hoạt động nhằm tài trợ cho các hợp đồng thương mại, xây dựng, xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai giai đoạn 2010 – 2012 cho thấy quy trình tác nghiệp và công tác thẩm định còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, dẫn tới nguy cơ phát sinh tranh chấp và tổn thất tài chính. Đề tài khóa luận tốt nghiệp được tác giả xác định nhằm giải quyết bài toán kiểm soát rủi ro bảo lãnh tại đơn vị thực tập.

Khóa luận xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và các loại hình rủi ro thường gặp trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại.
  2. Phân tích thực trạng hoạt động bảo lãnh, nhận diện các dạng rủi ro và xác định các nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh tại GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2010 – 2012.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị mang tính thực tiễn nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động bảo lãnh tại GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về bảo lãnh ngân hàng và rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại.
  • Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tình hình thực tế về hoạt động bảo lãnh và rủi ro bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hoàn Kiếm (địa chỉ tại số 07 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội; tiền thân đặt tại số 21 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội).
  • Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Dữ liệu hoạt động kinh doanh và số liệu bảo lãnh được thu thập, phân tích trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2010 đến năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các tập quán quốc tế về bảo lãnh ngân hàng:

  • Các văn bản pháp lý quốc gia: Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 (Điều 361 quy định về bảo lãnh); Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (Khoản 18 Điều 4 định nghĩa bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng); Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12; Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11; Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của Thống đốc NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng; Quyết định số 493/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. Tác giả cũng hệ thống hóa lịch sử lập pháp qua các Quyết định số 196/QĐ-NH14 (1994), Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14, Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN và Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN.
  • Quy tắc quốc tế: Quy tắc thực hành thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG 758) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành năm 2009.
  • Quy định nội bộ ngân hàng: Quyết định số 1883/2012/QĐ-HĐQT và Quyết định số 1884/2012/QĐ-HĐQT ngày 03/12/2012 của Hội đồng quản trị GP Bank về ban hành và hướng dẫn Quy chế bảo lãnh; Quyết định số 1663/2012/QĐ-TGĐ (và văn bản số 1633/2013/QĐ-TGĐ) về biểu phí giao dịch và dịch vụ.

Về khái niệm rủi ro, nghiên cứu viện dẫn quan điểm của nhà kinh tế học Allan Willet xác định rủi ro là những bất trắc cụ thể gắn với sự xuất hiện của biến cố không mong đợi, từ đó chuẩn hóa định nghĩa rủi ro bảo lãnh ngân hàng là các bất trắc ngoài ý muốn phát sinh từ cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, gây thiệt hại tài chính cho ngân hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh hoặc bên thụ hưởng.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp luận nền tảng: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp tài liệu lý thuyết, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh số liệu qua các năm (2010, 2011, 2012), phương pháp phân tích tình huống thực tế (case study) đối với các sự vụ vi phạm bảo lãnh và tài sản bảo đảm tại chi nhánh, phương pháp tra cứu ý kiến chuyên gia và tham chiếu kinh nghiệm quản trị từ các ngân hàng thương mại khác.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo tín dụng và số liệu theo dõi bảo lãnh nội bộ của Phòng Hỗ trợ tín dụng và Phòng Hành chính nhân sự GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2010 – 2012.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về rủi ro trong bảo lãnh tại ngân hàng thương mại

Chương 1 tập trung chuẩn hóa cơ sở lý luận về nghiệp vụ bảo lãnh và quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng. Tác giả phân tích mối quan hệ pháp lý ba bên giữa Người bảo lãnh (The Guarantor), Người được bảo lãnh (The Principal) và Người thụ hưởng (The Beneficiary) dựa trên cơ sở hợp đồng gốc, hợp đồng cấp bảo lãnh và thư bảo lãnh.

Nghiên cứu chỉ ra 4 chức năng cốt lõi của bảo lãnh ngân hàng:

  • Chức năng pháp lý (xác lập ràng buộc trách nhiệm trả thay độc lập của ngân hàng);
  • Chức năng thúc đẩy (tạo áp lực buộc bên được bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng);
  • Chức năng bồi thường (khắc phục tổn thất tài chính cho người thụ hưởng khi có vi phạm);
  • Chức năng là công cụ tài trợ thương mại quốc tế (tạo thanh khoản và điều chỉnh áp lực tài chính cho nhà thầu, doanh nghiệp).

Về mặt đặc điểm, nghiệp vụ bảo lãnh được xác định mang tính đa phương, tính độc lập tương đối, là hoạt động ngoại bảng (chỉ chuyển vào nội bảng thành nợ xấu khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ trả thay) và giao dịch thuần túy trên cơ sở chứng từ. Tác giả phân loại bảo lãnh theo hai tiêu chí: theo mục đích (bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước) và theo phương thức phát hành (bảo lãnh trực tiếp, bảo lãnh gián tiếp/đối ứng, đồng bảo lãnh, bảo lãnh phụ).

Về rủi ro bảo lãnh, chương này phân tích bản chất của 6 loại rủi ro điển hình: rủi ro kỹ thuật (sai sót trong tác nghiệp và kiểm tra chứng từ), rủi ro tín dụng (khách hàng mất khả năng hoàn trả số tiền trả thay), rủi ro ngoại hối (biến động tỷ giá hối đoái và mất cân đối trạng thái ngoại tệ), rủi ro chính trị (biến động chính sách, quản lý ngoại hối, chiến sự), rủi ro đạo đức (hành vi lừa đảo, lập hồ sơ khống, cấu kết giữa các bên) và rủi ro bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh). Nguyên nhân gây ra rủi ro được chia thành hai nhóm:

  • Nguyên nhân chủ quan: đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của cán bộ; sự thiếu chặt chẽ của quy trình nghiệp vụ; cơ chế quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ; năng lực công nghệ thông tin; mạng lưới ngân hàng đại lý.
  • Nguyên nhân khách quan: chu kỳ suy thoái kinh tế, lạm phát; môi trường pháp lý chưa đồng bộ; sự giám sát chưa sát sao của cơ quan quản lý; thiên tai bất khả kháng; hệ thống thông tin đối xứng kém; hành vi gian lận tinh vi của khách hàng.

Khép lại chương 1, tác giả khảo cứu bài học kinh nghiệm từ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trong việc chuẩn hóa quy trình, tuyển dụng nhân sự tốt nghiệp đại học, ứng dụng thanh toán SWIFT và hệ thống ngân hàng lõi T24; đồng thời tham chiếu mô hình kiểm soát nội bộ theo chiều dọc độc lập và thỏa thuận trọng tài quốc tế từ các ngân hàng nước ngoài như HSBC, Citibank, Bank of Tokyo.

Chương 2: Thực trạng rủi ro trong bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hoàn Kiếm

Chương 2 mô tả quá trình chuyển đổi của GP Bank từ mô hình ngân hàng nông thôn Ninh Bình sang ngân hàng đô thị (ngày 07/11/2005) với mạng lưới gồm 1 Hội sở chính, gần 80 chi nhánh/phòng giao dịch/quỹ tiết kiệm và hơn 1.400 cán bộ nhân viên, ứng dụng hệ thống ngân hàng lõi T24 của Temenos (Thụy Sỹ) xử lý trên 10.000 giao dịch/giây (đang triển khai phiên bản R9). GP Bank Chi nhánh Hoàn Kiếm được thành lập ngày 24/07/2008 theo Quyết định số 1241a/2008/QĐ-HĐQT, vận hành bộ máy gồm Ban giám đốc, 4 phòng nghiệp vụ (Hành chính tổng hợp, Kế toán tài chính - giao dịch & kho quỹ, Quan hệ khách hàng, Hỗ trợ tín dụng) và quản lý 5 phòng giao dịch trực thuộc (Thường Tín, Hàm Long, Hàng Bạc, Đan Phượng, Bùi Thị Xuân).

Thực trạng tài chính và kinh doanh của chi nhánh trong giai đoạn 2010 – 2012 thể hiện qua các chỉ tiêu:

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại GP Bank Hoàn Kiếm (2010 – 2012)

Chỉ tiêu Năm 2010 (Tỷ đồng) Năm 2011 (Tỷ đồng) Biến động 2011/2010 Năm 2012 (Tỷ đồng) Biến động 2012/2011
Tổng nguồn vốn N/A N/A -13,77% 2.066 +14,21%
Huy động dân cư N/A N/A Giảm 1.780 Chiếm 86,16%
Huy động tổ chức kinh tế 303 306 +0,99% (chiếm 16,92%) 286 Chiếm 13,84%

Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn và chất lượng tín dụng (2010 – 2012)

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tổng dư nợ (Tỷ đồng) 876 1.008 (+15,07%) 716 (-28,97%)
- Tỷ trọng vay ngắn hạn (%) 70,21% (615 tỷ) 79,37% (800 tỷ) 76,81% (550 tỷ)
- Tỷ trọng vay trung, dài hạn (%) 29,79% (261 tỷ) 20,63% (208 tỷ) 23,19% (166 tỷ)
Tỷ lệ nợ xấu (%) 1,20% 0,95% 0,52%
Trích lập dự phòng (Tỷ đồng) 6,39 10,15 6,49

Bảng 3: Doanh số và thu phí hoạt động bảo lãnh (2010 – 2012)

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Doanh số bảo lãnh (Triệu đồng) 16.304 Tăng 10,65% Giảm 27,02%
Số món bảo lãnh (Món) N/A Tăng 20,00% Giảm 20,00%
Thu phí bảo lãnh (Triệu đồng) 512 557 412
Tỷ trọng phí bảo lãnh trong tổng thu dịch vụ (%) 26,75% 8,05% 12,78%

Phân tích cơ cấu bảo lãnh cho thấy:

  • Theo phạm vi: Số món bảo lãnh trong nước trung bình gấp khoảng 14 lần số món bảo lãnh quốc tế; doanh số bảo lãnh trong nước gấp khoảng 4 lần bảo lãnh quốc tế. Dù số món ít, giá trị trung bình trên một món bảo lãnh quốc tế cao hơn bảo lãnh nội địa.
  • Theo mục đích: Bảo lãnh thanh toán chiếm tỷ trọng chi phối (trên 35% mỗi năm và có xu hướng tăng), tiếp đến là bảo lãnh thực hiện hợp đồng (trên 20%), còn lại là bảo lãnh dự thầu, hoàn trả tiền ứng trước. Hoạt động bảo lãnh thuế quan và nhận hàng giảm sút mạnh vào năm 2012 do khó khăn của hoạt động xuất nhập khẩu.

Khóa luận đi sâu phân tích các sai sót dẫn đến rủi ro kỹ thuật thông qua hai vụ việc cụ thể tại GP Bank Hoàn Kiếm:

  • Vụ việc 1: Khách hàng N.P - Giám đốc Công ty TNHH X cấu kết với Công ty Y lập hợp đồng mua bán khống 1.000 tấn đường nhằm xin cấp bảo lãnh thanh toán. Chi nhánh chấp thuận nhận chính lô hàng mía đường làm tài sản bảo đảm, kết hợp biện pháp thế chấp 2 căn biệt thự tại xã An Khánh (Hoài Đức) đang dùng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn trước đó. Khi Công ty X vi phạm hợp đồng, ngân hàng phải thanh toán thay cho Công ty Y. Khi tiến hành xử lý tài sản, ngân hàng phát hiện lô đường không tồn tại, còn 2 căn biệt thự đã bị khách hàng chuyển nhượng cho bên thứ ba từ trước, gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho ngân hàng.
  • Vụ việc 2: Ngân hàng phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho Công ty Thương mại CT, nhận tài sản bảo đảm là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã Phú Thọ cấp cho ông H.T. Do cơ quan chức năng sơ suất cấp trùng 2 phôi sổ đỏ hợp pháp cho ông T và anh trai, trong khi cán bộ tín dụng không yêu cầu bổ sung hợp đồng tặng cho. Khi phát mại tài sản, ngân hàng phát hiện tài sản đang bị Ngân hàng A xử lý để thu hồi khoản vay của người anh trai, dẫn tới tranh chấp kéo dài và buộc hai tổ chức tín dụng phải phân chia giá trị tài sản.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn Cầu, Chi nhánh Hoàn Kiếm

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển nghiệp vụ gắn liền với kiểm soát an toàn vốn, đồng thời đưa ra 7 nhóm giải pháp đối với GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm:

  1. Bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo định kỳ về nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế và pháp luật thương mại; siết chặt đạo đức nghề nghiệp và đề cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ phụ trách.
  2. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng: Đánh giá thực chất năng lực tài chính, dòng tiền và tính khả thi của phương án kinh doanh thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm; thẩm định thực tế sự tồn tại, tính pháp lý và khả năng thanh khoản của tài sản bảo đảm.
  3. Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và văn bản pháp lý: Soạn thảo cẩm nang hướng dẫn chi tiết quy trình phát hành bảo lãnh; xây dựng hệ thống biểu mẫu văn bản cam kết bảo lãnh chuẩn hóa, phù hợp quy định NHNN và URDG 758.
  4. Tăng cường công tác quản trị rủi ro: Xây dựng hạn mức bảo lãnh theo từng nhóm khách hàng và ngành nghề kinh doanh; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng ngoại bảng.
  5. Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ: Duy trì cơ chế kiểm tra chéo độc lập giữa khâu quan hệ khách hàng và hỗ trợ tín dụng; kiểm tra đột xuất việc quản lý hồ sơ và tài sản bảo đảm.
  6. Khai thác tốt tiềm năng của công nghệ hiện đại: Tối ưu hóa tính năng quản lý bảo lãnh trên phân hệ phần mềm ngân hàng lõi T24 R9; kết nối mạng lưới SWIFT trong phát hành bảo lãnh quốc tế.
  7. Xây dựng hệ thống thông tin khách hàng: Tăng cường tra cứu thông tin tín dụng qua CIC; thiết lập cơ sở dữ liệu nội bộ về lịch sử thực hiện hợp đồng của đối tác xin cấp bảo lãnh.

Khóa luận đồng thời đưa ra hệ thống kiến nghị ba cấp:

  • Kiến nghị với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo lãnh (hướng dẫn thống nhất các xung đột pháp lý giữa luật quốc gia và thông lệ quốc tế); nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng; nâng cấp chất lượng và độ bao phủ của Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC).
  • Kiến nghị với Hội đồng quản trị và Ban điều hành GP Bank: Phân cấp ủy quyền linh hoạt gắn liền với trách nhiệm; đầu tư công nghệ đồng bộ trong toàn hệ thống; mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý phục vụ bảo lãnh quốc tế.
  • Kiến nghị đối với khách hàng: Tăng cường tính minh bạch báo cáo tài chính; chủ động nâng cao năng lực thực hiện cam kết hợp đồng gốc; phối hợp chặt chẽ với ngân hàng trong quá trình giám sát tài sản bảo đảm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh trung thực kết quả hoạt động bảo lãnh tại GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm qua các số liệu có thật:

  • Doanh số phát hành bảo lãnh đạt 16.304 triệu đồng năm 2010, tăng 10,65% trong năm 2011 nhưng suy giảm 27,02% vào năm 2012; số món bảo lãnh biến động tương ứng tăng 20% (năm 2011) và giảm 20% (năm 2012).
  • Thu phí bảo lãnh đạt 512 triệu đồng (năm 2010), 557 triệu đồng (năm 2011) và 412 triệu đồng (năm 2012); tỷ trọng đóng góp của phí bảo lãnh trong tổng doanh thu dịch vụ dao động từ 8,05% đến 26,75%.
  • Nhận diện cơ cấu mất cân đối nghiêm trọng: hoạt động bảo lãnh nội địa chiếm ưu thế tuyệt đối (số món gấp ~14 lần, doanh số gấp ~4 lần bảo lãnh quốc tế); bảo lãnh thanh toán (>35%) và bảo lãnh thực hiện hợp đồng (>20%) chiếm tỷ trọng áp đảo.
  • Phân tích chi tiết tổn thất hàng tỷ đồng từ hai trường hợp sai phạm thực tế liên quan đến tài sản bảo đảm không có thật (lô hàng 1.000 tấn đường) và tài sản bảo đảm bị cấp trùng sổ đỏ (vụ việc tại thị xã Phú Thọ).

Đóng góp của đề tài nằm ở việc kết hợp khung phân tích lý luận với dữ liệu thực tế tại một chi nhánh ngân hàng đô thị cụ thể trong giai đoạn kinh tế suy thoái 2010 – 2012, chỉ rõ các lỗ hổng tác nghiệp và đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ chính quy trình vận hành của đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được xác định dựa trên phạm vi văn bản:

  • Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm mới giới hạn trong khung thời gian 3 năm (2010 – 2012) tại một đơn vị cơ sở là GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, chưa phản ánh toàn diện tình hình rủi ro bảo lãnh của toàn hệ thống GP Bank trên phạm vi toàn quốc.
  • Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế phát sinh với số lượng món còn hạn chế tại chi nhánh, do đó các phân tích về tranh chấp tài phán quốc tế và xung đột quy tắc URDG 758 chủ yếu dừng lại ở mức độ tổng quan kinh nghiệm mà chưa có nhiều ca bệnh thực tế chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2012 khi Thông tư số 28/2012/TT-NHNN có hiệu lực đầy đủ, so sánh mô hình quản trị rủi ro bảo lãnh giữa các ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô tương đương.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tư liệu đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Thanh toán quốc tế, Tài chính - Ngân hàng: Nguồn tài liệu tham khảo thực tế về cấu trúc một nghiên cứu rủi ro nghiệp vụ ngân hàng thương mại, phương pháp phân tích bảng cân đối kế toán và dữ liệu tín dụng ngoại bảng.
  • Cán bộ tín dụng, cán bộ hỗ trợ tín dụng và kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại: Bài học cảnh báo từ hai trường hợp rủi ro tài sản bảo đảm (thẩm định tính có thật của hàng hóa lưu kho và kiểm tra tính pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trùng) nhằm hoàn thiện khâu lập tờ trình và giải tỏa tài sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các căn cứ pháp lý và tập quán quốc tế chủ yếu nào để làm khung phân tích cho nghiệp vụ bảo lãnh?
Khóa luận căn cứ vào Luật Dân sự số 33/2005/QH11 (Điều 361), Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (Khoản 18 Điều 4), Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN, Thông tư số 28/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, cùng Quy tắc thực hành thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG 758, ICC 2009) và các quyết định nội bộ số 1883/2012/QĐ-HĐQT, 1884/2012/QĐ-HĐQT của GP Bank.

2. Quy mô doanh số và cơ cấu bảo lãnh tại GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm biến động như thế nào trong giai đoạn 2010 – 2012?
Doanh số bảo lãnh năm 2010 đạt 16.304 triệu đồng, năm 2011 tăng 10,65% (số món tăng 20%), nhưng đến năm 2012 giảm 27,02% (số món giảm 20%). Về cơ cấu, bảo lãnh nội địa chiếm ưu thế vượt trội (số món gấp ~14 lần, doanh số gấp ~4 lần bảo lãnh quốc tế); xét theo mục đích, bảo lãnh thanh toán chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 35%), theo sau là bảo lãnh thực hiện hợp đồng (trên 20%).

3. Mức phí bảo lãnh được chi nhánh áp dụng quy định ra sao và đóng góp thế nào vào thu nhập dịch vụ?
Theo Quyết định số 1663/2012/QĐ-TGĐ (và 1633/2013/QĐ-TGĐ), chi nhánh áp dụng mức phí bảo lãnh tối thiểu là 0,7%/năm trên giá trị bảo lãnh, số tiền thu tối thiểu là 300.000 VNĐ. Doanh thu phí bảo lãnh đạt 512 triệu đồng (năm 2010), 557 triệu đồng (năm 2011) và 412 triệu đồng (năm 2012), chiếm tỷ trọng tương ứng là 26,75%, 8,05% và 12,78% tổng doanh thu hoạt động dịch vụ của chi nhánh.

4. Hai trường hợp rủi ro tài sản bảo đảm điển hình được tác giả phân tích trong khóa luận phản ánh lỗ hổng nghiệp vụ gì?
Trường hợp 1 phản ánh việc thiếu kiểm định thực tế dẫn tới nhận tài sản thế chấp là lô 1.000 tấn đường không có thật và để khách hàng tự ý bán 2 căn biệt thự bảo đảm khi chưa có sự chấp thuận của ngân hàng, gây tổn thất hàng tỷ đồng. Trường hợp 2 phản ánh sự sơ suất trong kiểm tra pháp lý khi nhận tài sản bảo đảm là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cơ quan chính quyền cấp trùng 2 phôi, dẫn tới tranh chấp thi hành án với một ngân hàng thương mại khác.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đào Thị Bích Thu đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về bảo lãnh ngân hàng và nhận diện đầy đủ các loại hình rủi ro phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng ngoại bảng. Thông qua dữ liệu thực tế giai đoạn 2010 – 2012 tại GP Bank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, công trình đã làm rõ thực trạng mất cân đối cơ cấu bảo lãnh, biến động doanh số và những tồn tại trong công tác kiểm soát tài sản bảo đảm qua các vụ việc cụ thể. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất bám sát thực tiễn hoạt động kinh doanh, cung cấp góc nhìn tham khảo hữu ích cho công tác kiểm soát rủi ro bảo lãnh tại các chi nhánh ngân hàng thương mại.