CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Theo định nghĩa của Anthony Sauders (2007), rủi ro tín dụng được xác định là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, điều này có nghĩa là nguồn thu nhập dự tính từ khoản vay của ngân hàng mang lại không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn. Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng được cho là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Theo điểm a, khoản 24 điều 2 Thông tư 46/2016/TT-NHNN về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại thì rủi ro tín dụng được hiểu là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tại Việt Nam, theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có thể gây ra những tổn thất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện (một phần hoặc toàn bộ) nghĩa vụ đã cam kết. Còn theo Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) trình bày thì rủi ro tín dụng xuất hiện khi ngân hàng không thu hồi được từ khách hàng đầy đủ nợ gốc và lãi hoặc khách hàng không thanh toán khoản vay đúng kì hạn. Như vậy, có thể hiểu rằng rủi ro tín dụng là rủi ro dẫn đến mất tiền, là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra của ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng, do khách hàng vay không thực hiện các nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc khách hàng vay không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng.
Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến nhiều tổn thất tài chính cho ngân hàng như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Đây là một trong những rủi ro quan 4 5 trọng đối với các ngân hàng, bởi vì nó chiếm đã phần trong doanh thu và lợi nhuận đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng dựa trên các quan điểm khác nhau. Theo Bùi Diệu Anh (2013), hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro tín dụng phân Sơ đồ 1.
Phân loại rủi ro tín dụng. loại dưa trên được phân loại dựa trên nguyên nhân phát sinh và khả năng trả nợ. Dựa trên nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được xem là rủi ro giao dịch, rủi ro tác nghiệp, rủi ro danh mục. Dựa trên khả năng trả nợ, rủi ro tín dụng là rủi ro động vốn, rủi ro mất khả năng chi trả, rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay.
(Nguồn: Bùi Diệu Anh, 2013) Do nguyên nhân phát sinh Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng liên quan đến những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng của ngân hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. 5 6 Rủi ro lựa chọn là rủi ro quan trọng mà ngân hàng phải đối mặt từ quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay, cụ thể nếu ngân hàng lựa chọn sai đối tượng vay vốn hoặc sai phương án cho vay, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, cách thức đảm bảo, chủ thể đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB cụ thể là giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn giá trị của khoản vay hoặc giá trị bảo đảm không thể thanh toán cho khoản vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, rủi ro này làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ và làm tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay, công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng các hệ thống xếp hạng rủi ro và các kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề, các sai sót trong quá trình thẩm định, sai sót trong quá trình giải ngân, rủi ro trong quá trình quản lý sau giải ngân. Rủi ro danh mục là rủi ro nguyên nhân phát sinh là do các hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại là rủi ro xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro nội tại xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay, ví dụ yếu tố khách hàng thì cần xem xét đến tình hình tài chính, lịch sử tín dụng, dòng tiền, yếu tố về tài sản bảo thì cần xem xét đến loại hình tài sản, vị trí địa lý, tình trạng pháp lý,… Đối với rủi ro tập trung là rủi ro khi ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành - lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Những khách hàng được xem là khách hàng lớn ngân hàng dồn nguồn vốn để giải ngân cho những khách hàng đó ngân hàng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thanh toán của những khách hàng này. Nếu một khách hàng lớn gặp rủi ro và không thể thanh toán khoản vay, ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất lớn. Khi tập trung cho vay vào các ngành/lĩnh 6 7 vực có rủi ro cao (như bất động sản, chứng khoán), ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ cao khi xảy ra biến động thị trường hoặc rủi ro ngành. Rủi ro tác nghiệp là những sai sót trong nội bộ ngân hàng, đó là các tổn thất tìm ẩn do sự sai sót của nhân viên trong quá trình nhập liệu, gian lận hoặc vi phạm, do hệ thống bị lỗi gây gián đoạn trong quá trình hoạt động, hoặc do ảnh hưởng từ phía bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Do khả năng trả nợ Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn là sau khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng đưa ra một thời hạn hoàn trả nợ cụ thể. Tuy nhiên, đến thời hạn quy định nhưng khách hàng vẫn không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ, ngân hàng chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp mà ngân hàng cấp tín dụng mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thực hiện một số biện pháp để thu hồi nợ thậm chí là thanh lý TSĐB của cá nhân,doanh nghiệp để thu nợ. Rủi ro này có thể xuất phát từ nhiều yếu tố Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Ngoài hoạt động cho vay truyền thống, ngân hàng còn tham gia vào nhiều hoạt động khác mang tính chất tín dụng, tiềm ẩn rủi ro tín dụng mà ngân hàng cần quan tâm và quản lý hiệu quả như là bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ,… mỗi nghiệp vụ đều sẽ có một số rủi ro nhất định như là khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, khách hàng thuê mua không thanh toán được tiền thuê,… 1.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Một số nghiên cứu có liên quan trước đây của các tác giả Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011); Hồ Thị Thu Hương (2020); Bùi Hữu Phước, Ngô Thành Danh và Ngô Văn Toàn (2018) cũng cho ra kết quả rằng khả năng tài chính, năng lực 7 8 trả nợ của khách hàng là một yếu tố có tác động trực tiếp đến sự hình thành rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Năng lực tài chính yếu kém có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ của khách hàng, dẫn đến nhiều rủi roc ho cả khách hàng và tổ chức cho vay Mất việc làm: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra rủi ro tín dụng. Khi mất việc làm, khách hàng sẽ mất nguồn thu nhập chính để trả nợ. Giảm thu nhập: Giảm thu nhập cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Khi thu nhập giảm, khách hàng có thể gặp khó khăn trong việc trang trải các khoản chi tiêu hàng tháng và sẽ khó có thể trả nợ đầy đủ và đúng hạn, thậm chí không có khả năng trả được nợ. Tăng chi phí sinh hoạt: Tăng chi phí sinh hoạt cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Khi chi phí sinh hoạt tăng, khách hàng sẽ phải chi tiêu nhiều hơn, tiết kiệm ít đi, dẫn đến việc khó có thể trả nợ. Tỷ lệ nợ trên thu nhập của khách hàng quá cao: khách hàng gánh vác quá nhiều khoản nợ, khách hàng khó có khả năng chủ động được nguồn tài chính để trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.
Năng lực tài chính yếu kém còn được thể hiện qua lịch sử tín dụng kém: đây là lịch sử trễ thanh toán của các khoản vay trước đây, các vấn đề tín dụng phát sinh khác đều được lưu lại trên hệ thống ngân hàng. Việc cấp tín dụng cho những đối tượng khách hàng này cũng là một trong những rủi ro cho ngân hàng. Các yếu tố khác: Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác có thể khiến khách hàng không có khả năng trả nợ, chẳng hạn như bệnh tật, tai nạn, v. Khách hàng có ý định không trả nợ: đây là trường hợp khách hàng mất khả năng chi trả nên dừng việc thanh toán nợ cho ngân hàng hoặc từ ban đầu khách hàng đã không có ý định trả nợ, việc xác định ý định trả nợ của khách hàng là vô cùng quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro và kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục hiệu quả.
Mục đích sử dụng vốn không chính đáng: Một số khách hàng có thể vay tiền của ngân hàng để đầu tư vào các dự án có rủi ro cao, các hoạt động có nguy cơ vi phạm pháp 8 9 luật, đạo đức,….